Nghiệm thu nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Thành phố: “Nghiên cứu xây dựng quy trình sàng lọc rối loạn nhiễm sắc thể của phôi thông qua AND tự do (cell-free DNA/cfDNA) trong dịch nuôi cấy phôi

Vô sinh là một gánh nặng cho hệ thống y tế. Tình trạng vô sinh có xu hướng tăng cao, những biện pháp hỗ trợ sinh sản cần được cải tiến để đem lại nhiều lợi ích tốt hơn cho các cặp vợ chồng hiếm muộn.
Xét nghiệm di truyền tiền làm tổ để sàng lọc lệch bội nhiễm sắc thể (NST) ở phôi (Preimplantation Genetic Testing for Aneuploidy, PGT-A) giúp cải thiện tỷ lệ thành công của thụ tỉnh trong ống nghiệm (In Vitro Fertilization, IVF), làm gia tăng đáng kể tỷ lệ thai phát triển, tỷ lệ con sinh sống ở nhóm phụ nữ nguy cơ như tuổi mẹ cao, chuyển phôi thất bại nhiều lần hay sảy thai liên tiếp…
Quá trình thực hiện PGT-A, việc sinh thiết tế bào lá nuôi (Trophectoderm, TE) là một kỹ thuật xâm lấn, có tiềm năng làm ảnh hưởng khả năng sống của phôi. Bên cạnh đó, vật tư sinh thiết TE giá thành cao và yêu cầu người sinh thiết cần được đào tạo bài bản là những vấn đề bất cập làm cho việc áp dụng PGT-A thường quy tại các trung tâm hỗ trợ sinh sản.
Để khắc phục những nhược điểm của PGT-A, sàng lọc di truyền trước chuyển phối không xâm lấn (Nonivasive PGT-A/NiPGT-A) được ưu tiên nghiên cứu trong thời gian trở lại đây. NiPGT-A ban đầu được tiến hành bằng việc phát hiện và khuếch đại thành công DNA tự do (Cell free DNA, cDNA) có nguồn gốc từ các tế bào phôi trong dịch nang, sau đó là dịch nuôi cây phối (Spent culture media, SCM).
NiPGT-A có nhiều tiềm năng ứng dụng và giá trị trong thực hành lâm sàng. Tuy nhiên, kết quả chưa thống nhất do nhiều nguyên nhân như tỷ lệ khảm, tiêu chuẩn so sánh giữa TE và toàn bộ phôi… Hơn nữa, chưa có công bố ở Việt Nam đủ lớn về vấn đề này.
Xuất phát từ lý do trên, Học viện Quân y đề xuát triển khai thực hiện đề tài: “Nghiên cứu xây dựng quy trình sàng lọc rối loạn nhiễm sắc thể của phôi thông qua AND tự do (cell-free DNA/cfDNA) trong dịch nuôi cấy phôi”, mã số 01C-08/15-2021-3 do PGS.TS.BS Trịnh Tế Sơn làm chủ nhiệm. Đề tài hướng tới mục tiêu
– Xây dựng được quy trình sàng lọc rối loạn nhiễm sắc thể của phôi thông qua DNA tự do trong dịch nuôi cấy phôi.
– Khảo sát rối loạn nhiễm sắc thể của phôi thông qua DNA tự do của dịch nuôi cấy phôi.
– So sánh kết quả phân tích nhiễm sắc thể giữa phương pháp sử dụng DNA tự do với một số phương pháp khác.
Trong nghiên cứu này, việc điều chỉnh quy trình nuôi phôi để phục vụ xét nghiệm di truyền tiền làm tổ không xâm lấn, trong đó ở giai đoạn phôi phân cắt, tiến hành kỹ thuật hỗ trợ thoát màng, kiểm tra và loại bỏ tế bào hạt còn lại, rửa phôi bằng môi trường nuôi cấy; sau đó nuôi đơn phôi trong 204L đã làm gia tăng tỷ lệ nuôi phôi thành công từ giai đoạn phôi phân cắt sang giai đoạn phôi nang.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, quy trình NiPGT-A cho hiệu suất tương tự như các quy trình đã được báo cáo trước đây về khả năng phát hiện bất thường lệch bội trên phôi so với quy trình PGT-A trên mẫu sinh thiết TE. Nghiên cứu này mở ra triển vọng lớn cho việc tiếp tục đánh giá hiệu quả của niPGT-A trong khả năng cải thiện tỷ lệ làm tổ, tỷ lệ mang thai, tỷ lệ sinh sống hay tỷ lệ thành công của IVF so với PGT-A. Ngoài ra, một quy trình tối nuôi cấy và sinh thiết mẫu dịch môi trường tối ưu giúp hạn chế tối đa nguy cơ lây nhiễm các nguồn vật liệu di truyền ảnh hưởng tới kết quả phân tích và có thể áp dụng đồng bộ cho các trung tâm IVF cũng cần được nghiên cứu và xây dựng trong tương lai.
Kỹ thuật được nghiên cứu đạt các tiêu chuẩn chẩn đoán trong khu vực và thế giới, đảm bảo độ chính xác, khách quan, đảm bảo cạnh tranh về chất lượng. Cung cấp kỹ thuật phân tích lệch bội trước chuyển phôi an toàn, đơn giản hơn, giảm chi phí, thời gian và công lao động. Thiết lập được công cụ đáp ứng được nhu cầu chẩn đoán chính xác, hiệu quả áp dụng cho cơ sở IVF của đơn vị và cơ sở áp dụng kết quả trên địa bàn.
Kết quả và sản phẩm của đề tài sau khi nghiệm thu sẽ được chuyển giao cho các Trung tâm hỗ trợ sinh sản ở khu vực phía Bắc.
Việt Nam đã có trên 30 trung tâm IVF ở cả 3 vùng Bắc, Trung, Nam, trong đó có một tỷ lệ không nhỏ các cặp vợ chồng hiếm muộn cần can thiệp sàng lọc lệch bội nhiễm sắc thể. Kết quả của nghiên cứu có thể áp dụng cho hàng ngàn trường hợp có nguy cơ cao tại các đơn vị như Bệnh viện Phụ sản TƯ, Học viện Quân y… Các trung tâm IVF khác không có điều kiện triển khai kỹ thuật có thể gửi mẫu tới những trung tâm này để tiến hành chẩn đoán.
Đề tài đã được Hội đồng nghiệm thu cấp Thành phố do PGS.TS. Hồ Sỹ Hùng – Phó Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ sinh sản Quốc gia, Bệnh viện Phụ sản Trung ương làm Chủ tịch; ThS Nguyễn Khắc Sự – Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội làm Phó Chủ tịch Hội đồng, thống nhất nghiệm thu, đánh giá Đạt yêu cầu.
Đỗ Minh