Thiếu tướng, Giáo sư, Phó Giám đốc khiến các thế hệ đời đời nhớ ơn: Thuỷ phân giun làm “thần dược” cho bộ đội

Ở tuổi 98, Thiếu tướng, Giáo sư, Tiến sĩ, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Tụ nhớ vẹn nguyên những ngày cùng đồng đội bắt giun, thủy phân làm viên đạm B3min giữa chiến trường Tây Nguyên, góp phần chăm sóc sức khỏe bộ đội trong điều kiện vô cùng thiếu thốn.

Thiếu tướng, Giáo sư, Tiến sĩ, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Tụ sinh ngày 4/11/1928 tại xóm Mai, thôn Ngoại, xã Lâu Thượng, huyện Hạc Trì, tỉnh Phú Thọ (cũ), nay là Khu 3, phường Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, là con thứ hai trong gia đình có năm anh chị em.

Trải qua gần một thế kỷ, cuộc đời và sự nghiệp của ông gắn liền với những chặng đường lịch sử quan trọng của đất nước, từ phong trào cách mạng, kháng chiến chống thực dân, đế quốc cho đến quá trình xây dựng nền y học quân sự Việt Nam.

Ông từng đảm nhiệm các chức vụ: Hiệu trưởng Trường Quân y Quân khu Tây Bắc; Chủ nhiệm Quân y Mặt trận B3 (Tây Nguyên); Chủ nhiệm Quân y Quân đoàn 3; Bí thư Đảng ủy, Phó giám đốc Học viện Quân y…

Thiếu tướng, GS. TS. AHLLVTND Nguyễn Tụ – Nguyên Bí thư Đảng ủy, Phó Giám đốc Học viện Quân y trao đổi với các bác sĩ và học viên của Học viện Quân y. Ảnh: Tuấn Dũng

Mới đây, Giáo sư Nguyễn Tụ trở lại Học viện Quân y, thăm ngôi trường xưa và chia sẻ những câu chuyện về ngành quân y. Đặc biệt, ông đã nhắc lại một kỷ niệm đáng nhớ trong sự nghiệp của mình khi thủy phân giun để sản xuất B3min – một loại thuốc bổ được xem như “thần dược” giữa chiến trường – giúp chăm sóc sức khỏe bộ đội trong hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn.

Trực tiếp lắng nghe Giáo sư Nguyễn Tụ kể chuyện, các bác sĩ, học viên vô cùng kính trọng, nể phục.

Giáo sư Nguyễn Tụ: Nghiên cứu thuỷ phân giun, sản xuất thuốc đạm B3min cho bộ đội

Năm 1947, vừa tốt nghiệp lớp quân y sĩ khóa 3 của Trường Quân y sĩ Việt Nam (tiền thân của Học viện Quân y ngày nay), bác sĩ Nguyễn Tụ được điều về Ban Quân y, Phòng Hậu cần, Đại đoàn 316, phụ trách công tác y chính – kế hoạch tổng hợp, đảm nhiệm việc tổ chức, bố trí cứu chữa thương binh, bệnh binh rồi trực tiếp đi chiến dịch.

Ngay sau khi nhập ngũ, ông đã được kết nạp vào Đảng ở độ tuổi 20 và theo sát bước tiến của các cánh quân, từ Chiến dịch Việt Bắc – Thu Đông (1947), Chiến dịch Tây Bắc (1952) đến Chiến cuộc Thu Đông 1953-1954 mà đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Cuối năm 1965, bác sĩ Nguyễn Tụ nhận quyết định vào chiến trường Tây Nguyên với cương vị Phó chủ nhiệm rồi Chủ nhiệm Quân y Mặt trận. Ông đã cùng Ban Quân y Mặt trận có nhiều sáng tạo trong cấp cứu, điều trị bệnh sốt rét, điều trị vết thương và xây dựng kế hoạch bảo đảm quân y cho các trận đánh và các chiến dịch lớn như: Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, Chiến dịch Tây Nguyên, Chiến dịch Hồ Chí Minh.

“Khi tôi xuống với bộ đội đang hoạt động ở đường Trường Sơn thấy anh em sốt rét nhiều quá. Tôi gặp đồng chí Vũ Văn Đôn, em ruột của bác sĩ Vũ Văn Cẩn, Cục trưởng Cục Quân y đầu tiên của chúng tôi. Anh Đôn hỏi tôi nghe nói mọi người ăn sống giun đất ăn sống có phải là một vị thuốc để chữa sốt rét không. Tôi báo cáo lại rằng có việc người dân vào rừng bị sốt rét và có lấy giun đất để dùng vì cho rằng do “nước độc, ma thiêng”. Tôi được biết trong y học dân tộc có một vị thuốc là vị địa long mà vị thuốc ấy chính là lấy từ giun đất.

Tôi mới suy nghĩ, bây giờ chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu về vấn đề đó cả. Nhưng tôi nghĩ giun là một sinh vật, cũng có thể cấu tạo từ những chất đạm”, Giáo sư Nguyễn Tụ nhớ lại.

Chủ nhiệm Quân y Chiến trường Tây Nguyên Nguyễn Tụ (bên phải) tại chiến trường Tây Nguyên (năm 1973). Ảnh: NTCC

Sau đó, ông về lại Tây Nguyên, trao đổi với các dược sĩ của xưởng dược. Vì vào mùa mưa ở Tây Nguyên, giun to tự đùn lên rất nhiều, ông đề nghị sẽ đi qua các con sông như Pô Kô, Sa Thầy, Sêrêpốk, Xê Xan bắt giun nghiên cứu thủy phân thử thành cao lỏng. Nếu có điều kiện sẽ gửi ra Bắc phân tích xem trong giun có hoạt chất gì, nếu không thì chính anh em tự nghiên cứu, tự sử dụng trước xem có độc không rồi cho bộ đội dùng.

“Ở chiến trường nghèo đói, khó khăn, không có gạo để làm bột. May là ở xưởng dược có cái máy dập viên quay tay. Chúng tôi đã lấy bột sắn rồi trộn với cao lỏng giun dập thành viên đạm đầu tiên.

Chúng tôi uống thử nghiệm thì thấy tốt quá, lại không có độc. Thậm chí có những anh em còn đỏ da và có tác dụng rất tốt cho việc hỗ trợ chữa sốt rét.

Khi đó, 100% ca sốt rét của bộ đội khi ở chiến trường Tây Nguyên sẽ có khoảng có tới 20% chuyển thành sốt rét ác tính, tỷ lệ tử vong rất cao. Tôi rất đau lòng. Khi tôi làm Chủ nhiệm Quân y Tây Nguyên, có lần xuống kiểm tra ở một tiểu đoàn quân y, có tới 300 anh em nằm trên võng bị sốt rét. Có những người đã đi vào sốt rét ác tính, thậm chí có những đồng chí đã tử vong”, Giáo sư Nguyễn Tụ kể.

Vì vậy, dù viên đạm không phải thuốc chữa được sốt rét nhưng có thể tăng cường sức khỏe cho bộ đội để điều trị tốt hơn. Cơ thể sống có 20 loại axit amin tạo nên, trong đó có 9 loại cơ thể không tự tổng hợp được. Khi gửi viên đạm ra miền Bắc, bác sĩ Nguyễn Tụ rất mừng vì tất cả những loại axit amin mà cơ thể không tự tổng hợp được lại có đủ trong đó.

“Chúng tôi quyết định chuyển sang sản xuất hàng loạt. Cứ tới mùa mưa, chúng tôi lại ra các bờ sông cầm xẻng xúc giun, đổ vào gùi mang về. Chúng tôi đặt mục tiêu mỗi năm phải có 1 triệu viên đạm giun đất.

Ngày đó, Việt Nam được viện trợ ít ỏi viên đạm Moriamin của Nhật được đựng trong lọ rất đẹp. Chúng tôi quyết định đặt tên cho viên đạm này là B3min, lấy tên theo địa danh B3 – chiến trường Tây Nguyên. Theo kết quả tổng kết, từ khi có B3min, tỷ lệ sốt rét ác tính từ 20% xuống còn 10%. Tỷ lệ tử vong cũng giảm đi rõ rệt. Chúng tôi có thể coi đó là một sáng kiến, một thành tựu của quân y chiến trường”, Giáo sư Nguyễn Tụ cho hay.

Bác sĩ quân y “5 trong 1”

Hòa bình lập lại, bác sĩ Nguyễn Tụ ra Bắc, công tác tại Cục Quân y. Sau đó ông được cử sang Liên Xô học về công tác tổ chức chiến thuật quân y và về nhận nhiệm vụ ở Học viện Quân y đến chức vụ Phó Giám đốc.

Giáo sư Nguyễn Tụ đã góp phần đổi mới đào tạo tại Học viện Quân y, từ chương trình, giáo trình đến phương pháp giảng dạy và tăng cường thực hành cho sinh viên. Trong điều kiện cơ sở vật chất thiếu thốn, ông còn trực tiếp tìm kiếm, vận động địa điểm học tập cho học viên.

Thiếu tướng, GS, TS. AHLLVTND Nguyễn Tụ trình bày tham luận tại Hội thảo “Công tác bảo đảm quân y trong chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc – Kết quả và bài học kinh nghiệm” (28/01/2026). Ảnh: NTCC

Sau khi nghỉ hưu năm 1997, ông vẫn miệt mài nghiên cứu, giảng dạy, đào tạo thế hệ sau và đóng góp cho y học. Ở ông luôn nổi bật sự tận tâm, trí tuệ và quan niệm nhất quán: dù y học phát triển đến đâu, người thầy thuốc vẫn phải giữ trọn tinh thần “Lương y như từ mẫu”.

Ở tuổi 98, bên cạnh câu chuyện về viên đạm B3min, Giáo sư Nguyễn Tụ nhắn nhủ với các bác sĩ, học viên những nhiệm vụ cần có của một bác sĩ quân y ngày nay.

“Ở chiến trường Tây Nguyên, chúng tôi thấy rằng muốn hoàn thành nhiệm vụ chính của mình là bảo vệ sức khỏe và cứu chữa thương binh, bệnh binh, cán bộ và nhân viên quân y, kể cả bác sĩ, người quân y phải làm “5 trong 1”.

Thứ nhất, phải là một chiến sĩ, biết chiến đấu để bảo vệ thương binh. Thứ hai là phải là một chiến sĩ công binh để đào hầm trú ẩn, làm nhà cho thương binh ở.

Thứ ba phải là một chiến sĩ vận tải, phải đi lấy gạo, đôi khi phải đi hàng tuần mới mang được gạo về. Thứ tư, phải là một chiến sĩ vận chuyển vì trong chiến dịch huy động cả quân y mang súng, mang đạn tiếp tế cho bộ đội. Cuối cùng mới làm được nhiệm vụ của chiến sĩ quân y, tức là cứu chữa và vận chuyển thương binh.

Cán bộ, chiến sĩ quân y ở Tây Nguyên còn phải biết tự sản xuất lương thực, thực phẩm, tự nuôi dưỡng mình và nuôi dưỡng thương binh, bệnh binh.

Còn bây giờ, một cán bộ quân y trước hết phải là một sĩ quan, phải có trình độ chính trị, khoa học quân sự. Thứ hai là phải giỏi về chuyên môn, không chỉ là kỹ thuật mà còn là chiến thuật, y đức, đạo đức để phục vụ hết lòng, hết sức cho thương binh và bệnh binh.

Do vậy, tôi nghĩ 5 phương châm y học cách mạng chúng tôi tâm niệm suốt từ đầu kháng chiến cho đến bây giờ vẫn như thế. Phương châm thứ nhất là hết lòng, hết sức phục vụ thương binh và bệnh binh. Phương châm thứ hai là phải điều trị toàn diện, tức là phải động viên, phải giúp đỡ, phải tạo điều kiện để người thương binh, bệnh binh yên tâm điều trị. Phương châm thứ ba là lấy phòng bệnh làm chính. Phương châm thứ tư là kết hợp y học hiện đại và y học cổ truyền. Và cuối cùng là cần kiệm xây dựng ngành”, Giáo sư Nguyễn Tụ chia sẻ.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tặng hoa chúc mừng Thiếu tướng, GS. TS. AHLLVTND Nguyễn Tụ nhân dịp nhận Huy hiệu 80 năm tuổi Đảng. Ảnh: TTXVN

Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó thủ tướng Chính phủ, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Thiếu tướng, GS. TS. AHLLVTND Nguyễn Tụ tại chương trình Giao lưu nghệ thuật “Sức mạnh Hậu cần trong chiến thắng Điện Biên Phủ” (20/4/2024). Ảnh: NTCC

Với những thành tích, cống hiến xuất sắc trong sự nghiệp cách mạng, Thiếu tướng, GS. TS. AHLLVTND Nguyễn Tụ được Đảng, Nhà nước và Quân đội tặng thưởng nhiều danh hiệu và phần thưởng cao quý, tiêu biểu như: Danh hiệu AHLLVTND (2018); Huân chương Chiến thắng hạng Ba (1959), Huân chương Kháng chiến hạng Nhất (1984), 2 Huân chương Quân công hạng Nhì (1984) và hạng Ba (2021), 3 Huân chương Chiến công giải phóng hạng Nhất, Nhì, Ba (1973, 1976, 1977), 03 Huân chương Chiến sĩ giải phóng hạng Nhất, Nhì, Ba (1969, 1973, 1974), 3 Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Nhì, Ba, Huy chương Quân kỳ Quyết thắng; Giải thưởng Nhà nước về Khoa học và Công nghệ (2000); Huy hiệu 80 năm tuổi Đảng (2026) cùng nhiều phần thưởng cao quý khác.

Tào Nga