ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN HỌC VIỆN QUÂN Y – 75 NĂM XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN VÀ TRƯỞNG THÀNH (10/3/1949 – 10/3/2024)
Phần thứ nhất
HỌC VIỆN QUÂN Y – NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN
- Trường Quân y sỹ Việt Nam ra đời đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo đảm quân y trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
Trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, nhất là sau thắng lợi của Chiến dịch Thu – Đông 1947, trước yêu cầu xây dựng Quân đội cách mạng, ngày 20/8/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 234/SL về việc mở các trường đào tạo những cán bộ y tế cho dân y và Quân y. Cuối năm 1948, Quân y Cục đã khẩn trương xúc tiến thành lập Trường Quân y sỹ Việt Nam.
Nhà trường tổ chức thi tuyển văn hóa (Diplom) có 60 học sinh trúng tuyển, trong đó có 11 đồng chí là y tá. Ngày 10/3/1949, tại thôn Tuần Lũng, xã Hoàng Hoa, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc, Trường Quân y sỹ Việt Nam (tiền thân của Học viện Quân y) tổ chức khai giảng khoá I đào tạo Quân y sỹ. Từ đó, ngày 10 tháng 3 hàng năm trở thành ngày truyền thống của Học viện Quân y.
Ngày 20/3/1950, Nhà trường khai giảng khóa II, gồm 58 học viên (18 y tá quân nhân còn lại là cán bộ, nhân viên các cơ quan dân sự động viên vào Quân đội). Do yêu cầu của cuộc kháng chiến, ngày 28/8/1950, tất cả học viên khoá I và khoá II đã nhận lệnh lên đường tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu trong Chiến dịch Biên giới.
Tháng 3/1951, Nhà trường khai giảng khoá III, gồm 104 học viên, hầu hết đã là y tá, hộ lý.
Tháng 6 năm 1953, Nhà trường khai giảng khoá IV với 100% học viên đều là y tá hoặc y tá trưởng, có 5 năm công tác trở lên hoặc là cán bộ phụ trách quân y tiểu đoàn, y tá các khoa trong các bệnh viện.
Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, Trường Quân y sỹ Việt Nam đã có tổng số hơn 200 cán bộ, giảng viên và học viên đã tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu trong suốt Chiến dịch.
Tháng 12/1954, Nhà trường chuyển về Hà Nội, xây dựng cơ sở tạm thời tại khu vực gần Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 hiện nay và tiếp tục đào tạo quân y sĩ khoá V.
Tháng 4/1957, Nhà trường khai giảng khoá VI. Đây là khoá đầu tiên đào tạo quân y sỹ theo chương trình cơ bản, chính quy.
- Trường Sỹ quan Quân y phát triển thành Trường Đại học Quân y đáp ứng yêu cầu phục vụ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Để đáp ứng mục tiêu xây dựng Quân đội theo hướng cách mạng, chính quy làm nòng cốt cho sự nghiệp giải phóng Miền Nam, đồng thời thành lập các trường đào tạo sỹ quan Quân đội, tháng 7/1957, trên cơ sở Trường Quân y sỹ Việt Nam, Bộ Quốc phòng thành lập Trường Sỹ quan Quân y.
Tháng 12/1958, Viện Quân y 103 (tiền thân là Đội điều trị 3, thành lập ngày 20/12/1950) trở thành bệnh viện thực hành của Nhà trường. Từ đó, Viện Quân y 103 gắn bó với lịch sử truyền thống phát triển của Học viện Quân y.
Tháng 7/1959, khai giảng lớp YA (Y Cao A), gồm 64 học viên (tuyển sinh từ đối tượng y sỹ và những sinh viên đã thi đỗ Đại học Y Khoa Hà Nội, thời gian đào tạo từ hai năm rưỡi đến 3 năm. Tháng 11/1959, khai giảng lớp YB (Y Cao B) gồm 90 học viên. Đây là những khoá học viên liên kết đào tạo giữa Trường Sĩ quan Quân y và Đại học Y khoa Hà Nội. Tháng 2.1962, các khoá YA và YB đã có 100% học viên được công nhận tốt nghiệp. Thành công của 2 khoá bác sĩ đầu tiên khẳng định sự phát triển vượt bậc của Trường Sĩ quan Quân y về năng lực và chất lượng đào tạo.
Sau Phong trào Đồng khởi 1959 – 1960, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đòi hỏi cần phải có số lượng lớn thầy thuốc phục vụ cho chiến trường Miền Nam, Nhà trường đã triển khai đào tạo các khoá Y Cao C, Y Cao D; riêng các lớp B26/1, B26/2, B27/1 là những y sỹ Miền Nam tập kết ra Bắc được đào tạo cấp tốc về ngoại khoa để đi phục vụ chiến trường. Gần 300 thầy thuốc do Trường Sỹ quan Quân y đào tạo đã bổ sung chi viện kịp thời cho chiến trường Miền Nam, đáp ứng yêu cầu chăm sóc sức khoẻ bộ đội, cứu thương binh trên chiến trường miền Nam.
Trước yêu cầu phát triển của nền Y học và Y học Quân sự, nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đào tạo, chăm sóc sức khoẻ bộ đội, ngày 23.3.1962, trên cơ sở Trường sỹ quan Quân y, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Viện Nghiên cứu Y học Quân sự.
Năm 1965, quân xâm lược Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại Miền Bắc bằng không quân, không để chiến tranh làm gián đoạn công tác đào tạo và để bảo toàn lực lượng, Viện Nghiên cứu Y học Quân sự sơ tán về 32 thôn thuộc 3 huyện: Thanh Trì (Hà Nội); Thường Tín và Thanh Oai (Hà Tây) và trong gia đoạn này, Bệnh viện 103 trở thành bệnh viện tuyến cuối của toàn quân, vừa thực hiện nhiệm vụ thực hành vừa làm nhiệm vụ cứu chữa thương bệnh binh nặng.
Sau thất bại trong cuộc phản công chiến lược lần thứ nhất (1965 – 1966), đế quốc Mỹ tiếp tục mở rộng chiến tranh xâm lược Việt Nam. Trước yêu cầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đòi hỏi công tác đảm bảo quân y phải đáp ứng cả về số lượng và chất lượng. Ngoài việc động viên các sinh viên y dược năm cuối nhập ngũ cần phải đào tạo bác sĩ, dược sĩ để phục vụ Quân đội lâu dài, ngày 8/8/1966, trên cơ sở Viện Nghiên cứu Y học Quân sự, Chính phủ quyết định thành lập Trường Đại học Quân y.
Trong giai đoạn từ 1966-1975, Trường Đại học Quân y đã đào tạo hàng ngàn bác sỹ, dược sỹ, cùng với các trường Y-Dược dân sự, đáp ứng kịp thời yêu cầu cung cấp thầy thuốc cứu chữa thương bệnh binh trên các chiến trường.
Trong chiến dịch Đại thắng Mùa Xuân 1975, Đội điều trị 104 của Trường Đại học Quân y vinh dự hành quân cùng bước chân của đoàn quân thần tốc tiến vào giải phóng Sài Gòn, tiếp quản Tổng Y viện Cộng hoà của Quân đội Nguỵ và xây dựng Bệnh viện 175 (một trong 3 bệnh viện loại A của Quân đội).
Ngày 15/11/1975, Trường Quân y Miền Nam hợp nhất với Trường Đại học Quân y và trở thành cơ sở 2 của Đại học Quân y (hiện nay là Phân hiệu phía Nam, Học viện Quân y).
Trước yêu cầu đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học và chuyên gia giỏi để xây dựng và phát triển Ngành Quân y, từ năm 1975, Nhà trường triển khai đào tạo bác sỹ chuyên khoa I, năm 1979 đào tạo tiến sỹ, năm 1980 đào tạo bác sỹ chuyên khoa II, năm 1992 đào tạo thạc sỹ. Trường Đại học Quân y là một trong những trường đại học đầu tiên của cả nước triển khai đào tạo sau đại học.
- Học viện Quân y trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Cuối năm 1977 đầu năm 1978, bọn phản động Pôn-pốt đã gây ra cuộc chiến tranh Biên giới Tây Nam, Nhà trường thành lập Đội điều trị 46 chi viện cho chiến trường Tây Nam. Đầu năm 1979 để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ biên giới phía Bắc của Tổ quốc cán bộ, học viên của Nhà trường trong Đội điều trị 47 và Đội điều trị 49 lại đồng hành cùng những đoàn quân trùng điệp ra chiến trường bảo vệ biên cương của Tổ quốc.
Trước yêu cầu của sự nghiệp xây dựng Quân đội cách mạng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, ngày 16/12/1981, trên cơ sở Trường Đại học Quân y, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Học viện Quân y, nằm trong hệ thống các học viện, nhà trường Quân đội trực thuộc Bộ quốc phòng.
Năm 1996, Trường Trung học Quân y 1 hợp nhất về Học viện Quân y. Từ đây, Học viện Quân y có thêm nhiệm vụ đào tạo cán bộ, nhân viên y tế bậc sơ học và trung học. Đây bắt đầu là thời gian Học viện đào tạo đầy đủ tất cả các bậc học từ sơ học, trung học đến đại học và sau đại học. (Thực hiện Quyết định số 278, 279/QĐ-BQP ngày 27/01/2021 của Bộ trưởng BQP về việc điều chuyển Trường Cao đẳng Quân y 1, về trực thuộc TCHC).
Ngày 25/4/1991, trước nhu cầu thực tiễn, bức thiết cần phải có một đơn vị đầu ngành trong cả nước để chỉ đạo, hướng dẫn phát triển chuyên ngành bỏng và thực hiện kết hợp quân, dân y, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) đã ký Quyết định số 142/CT thành lập Viện Bỏng Quốc gia mang tên đại danh y Lê Hữu Trác, gọi tắt là Viện Bỏng Lê Hữu Trác, trên cơ sở Khoa Bỏng, Viện Quân y 103.
Ngày 03/7/2019, để phù hợp với sự phát triển chung của Ngành Y tế trong giai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo; tuân thủ đúng qui định của Luật Khám bệnh, chữa bệnh về các hình thức tổ chức của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; được sự ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã ký Quyết định số 2768/QĐ-BQP về việc đổi tên Viện Bỏng quốc gia Lê Hữu Trác thành Bệnh viện Bỏng quốc gia Lê Hữu Trác thuộc Học viện Quân y.
Phần thứ hai
HỌC VIỆN QUÂN Y – NHỮNG MỐC SON TIÊU BIỂU
Kể từ ngày khai giảng khoá đào tạo quân y sĩ đầu tiên, từ Trường Quân y sĩ Việt Nam đến tên gọi Học viện Quân y ngày nay đã trải qua 75 năm xây dựng, phát triển và trưởng thành với nhiều chiến công chói lọi, thành tích vẻ vang, trong đó nổi bật lên 7 mốc son tiêu biểu sau đây:
- Có sự lớn mạnh, trưởng thành vượt bậc
Từ cơ sở đơn sơ, nhỏ bé ban đầu, Nhà trường chỉ có chưa đến 20 cán bộ, nhân viên và 4 giảng viên, cơ ngơi có một hội trường, hai căn nhà vừa làm phòng ở vừa là phòng học và một nhà bếp, tất cả chỉ làm bằng gianh, tre, nứa, lá đơn sơ; một tủ sách chuyên môn đều là sách Pháp ngữ được góp từ những tài liệu của các giảng viên mang theo kháng chiến; mô hình, học cụ buổi ban đầu chỉ có 2 chiếc kính hiển vi cũ (mua từ nội thành chuyển ra) và một bộ xương vô thừa nhận, lấy ở bệnh viện Việt Trì được dùng làm học cụ môn Giải phẫu… Ngày nay, Học viện Quân y là một trong những trung tâm y học hàng đầu của Quân đội, một trong những trung tâm khoa học lớn của cả nước thực hiện các nhiệm vụ: đào tạo cán bộ, nhân viên ngành Y, Dược có trình độ đại học và sau đại học; nghiên cứu khoa học và điều trị. Cho đến nay, Học viện Quân y có 44 đầu mối trực thuộc trong đó có hai bệnh viện điều trị, thực hành lâm sàng (Bệnh viện Quân y 103, Bệnh viện Bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác) và Viện Mô phôi lâm sàng Quân đội. Về tổ chức đảng, Đảng bộ Học viện Quân y trực thuộc Quân ủy Trung ương, gồm: 01 Đảng bộ cấp trên trực tiếp cơ sở (BVQY 103), 19 đảng bộ cơ sở, 72 chi bộ cơ sở. Học viện có trên 93% cán bộ, giảng viên của Học viện đạt trình độ sau đại học, trong đó có 53 giáo sư, 234 phó giáo sư; hàng trăm tiến sĩ, thạc sĩ, bác sĩ chuyên khoa cấp II và bác sĩ chuyên khoa cấp I; 15 nhà giáo Nhân dân, 42 nhà giáo Ưu tú; 19 thầy thuốc Nhân dân, 179 thầy thuốc Ưu tú; 10 chuyên viên kỹ thuật đầu ngành. Học viện đóng quân trên địa bàn nhiều tỉnh, thành gồm: Hà Đông, Thanh Trì, Thạch Thất (Hà Nội), Lương Sơn (Hòa Bình), Sầm Sơn (Thanh Hóa), Quận 10 (TP. Hồ Chí Minh).
- Đã đào tạo đội ngũ cán bộ y tế lớn cho toàn quân và cả nước
Trong 75 năm qua, Học viện đã đào tạo cho Quân đội và Nhà nước hơn 100.000 cán bộ, nhân viên y tế. Trong đó, có hơn 1.200 tiến sỹ, hơn 10.000 thạc sỹ, bác sĩ nội trú, bác sĩ chuyên khoa cấp I, bác sĩ chuyên khoa cấp II; gần 30.000 bác sỹ, dược sĩ, cử nhân điều dưỡng, cử nhân kỹ thuật, sĩ quan dự bị và trên 60.000 nhân viên y tế; hoàn thành gần 1.000 đề tài khoa học, trong đó trên 220 đề tài, dự án cấp Nhà nước; trên 700 đề tài và sáng kiến cấp bộ, ngành và Học viện; trên 200 sáng kiến cải tiến kỹ thuật…
- Công tác nghiên cứu khoa học có bước phát triển vượt bậc
Học viện đã đạt được nhiều thành tích xuất sắc và đặc biệt xuất sắc, đóng góp lớn trong chăm sóc sức khỏe cho bộ đội và nhân dân. Các lĩnh vực NCKH của Học viện thực hiện bao gồm: Y học quân sự, y học cơ sở, y học lâm sàng và y học thảm hoạ; Công nghệ sinh học và tế bào gốc; Dược chất và hợp chất tự nhiên.
Đến nay, Học viện đã nghiên cứu và hoàn thành được gần 300 đề tài, dự án, nhiệm vụ KH&CN cấp Nhà nước; hơn 400 đề tài cấp bộ, ngành và cấp tỉnh, thành phố; hơn 400 đề tài cấp cơ sở và hơn 200 sáng kiến cải tiến được các cấp công nhận. Số lượng đề tài, sáng kiến được ứng dụng vào điều trị đạt tỷ lệ cao. Nhiều đề tài đạt giải thưởng khoa học quốc gia và quốc tế, có ý nghĩa quan trọng về chính trị – xã hội; quốc phòng an ninh. Học viện đang tiếp tục thực hiện 07 đề tài cấp Nhà nước, trong đó có 05 đề tài độc lập cấp Nhà nước, 01 đề tài thuộc Chương trình KC 4.0/19-25, 01 đề tài thuộc Chương trình KHCN Quỹ gen cấp Quốc gia.
Đặc biệt, Học viện là cơ sở y tế đầu tiên trong nước thực hiện thành công các ca ghép thận, ghép gan, ghép tim, ghép đồng thời tụy – thận và ghép phổi trên người, góp phần tạo nên bước phát triển vượt bậc của nền y học nước nhà.
Ghép thận. Ngày 4/6/1992 ca ghép thận đầu tiên ở Việt Nam đã thực hiện thành công trong điều kiện vô vàn khó khăn tại Bệnh viện Quân y 103, Học viện Quân y. Bệnh nhân là Thiếu tá Vũ Mạnh Đoan 40 tuổi được ghép thận từ người tặng là em trai ruột 28 tuổi. Thành công của ca ghép tạng đầu tiên này đã viết nên trang sử mới cho nền y học nước nhà, khởi đầu cho một chuyên ngành mới ở nước ta – chuyên ngành ghép tạng. Hiện nay, ghép thận đã trở thành kỹ thuật thường quy của Học viện Quân y, nhiều ca ghép trong đó có ca ghép từ năm 1992 đến nay vẫn còn sống và khỏe mạnh, nhiều bệnh viện quốc tế đến đăng ký và mổ ghép thận tại BVQY 103.
Ghép gan. Ngày 31/1/2004, BVQY 103, Học viện Quân y đã tiến hành ca ghép gan cho cháu Nguyễn Thị Diệp (10 tuổi), quê ở Nam Định, bị bệnh teo đường mật bẩm sinh đã biến chứng, nếu không ghép gan sẽ nguy kịch tính mạng. Người cho là bố đẻ (31 tuổi) đã hiến một phần lá gan. Đến nay, sức khỏe và chức năng gan của hai bố con cháu Diệp đều ổn định; cháu Diệp đã tốt nghiệp Trường Cao đẳng Quân y 1, sau khi ra trường về công tác tại BVQY 103, Học viện Quân y.
Ghép tim. Ngày 17/6/2010, ca ghép tim đầu tiên trên người tại Việt Nam đã được tiến hành thành công tại “cái nôi” ghép tạng BVQY 103, Học viện Quân y. Bệnh nhân được ghép tim là anh Bùi Văn Nam, 48 tuổi bị bệnh cơ tim thể giãn, suy tim độ 4. Bệnh nhân Nam được ghép tim đúng vị trí theo phương pháp nối 2 tâm nhĩ. Trái tim ghép cho anh Nam nhận từ một bệnh nhân chết não 29 tuổi. Sau ca mổ bệnh nhân có cuộc sống đời thường như bao người khác, ca mổ nhiều mong đợi này đã ghi tên Việt Nam vào bản đồ ghép tim thế giới.
Ghép đồng thời tụy – thận. Sau một thời gian dài nghiên cứu, chuẩn bị chu đáo mọi mặt, đêm ngày 28/02 rạng ngày 01/3/2014, một lần nữa các bác sĩ của BVQY 103, Học viện Quân y đã tiến hành thành công ca ghép đa tạng (tụỵ, thận) lần đầu tiên trên người tại Việt Nam. Bệnh nhân của ca ghép là anh Phạm Thái Huyên 43 tuổi bị đái tháo đường, suy thận. Tạng được hiến từ một người chết não vì tai nạn giao thông. Ca ghép tuỵ – thận lần này được triển khai hoàn toàn do các bác sĩ của Học viên Quân y thực hiện, chấm dứt sự tụt hậu 48 năm ghép tụy so với thế giới. Việc làm chủ các kỹ thuật phức tạp góp phần giúp bác sĩ Việt Nam khẳng định tay nghề và trình độ ngang tầm quốc tế đồng thời điều này chứng tỏ sự tiến bộ vượt bậc trong lĩnh vực ghép tạng của Học viện Quân y và nền y học Việt Nam.
Ghép phổi. Sau một thời gian làm tốt công tác chuẩn bị, 8h00 ngày 21/02/2017, ca ghép Phổi đầu tiên trên người đã được tiến hành tại BVQY 103, Học viện Quân y. Bệnh nhân là cháu Ly Chương Bình 8 tuổi, quê ở xã Bát Đại Sơn, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang có các chỉ số ghép phù hợp nên được Học viện Quân y cùng Bệnh viện Nhi Trung ương lựa chọn. Cháu Bình mắc bệnh từ khi sơ sinh, phổi bị viêm tái phát, kéo dài đã ảnh hưởng tới chức năng của tim với dấu hiệu biến chứng suy tim nhẹ, nếu không ghép sớm, cháu sẽ không thể sống được. Sau ca ghép, các đồng chí lãnh đạo Bộ Quốc phòng, Bộ Y tế đã đến thăm và đánh giá cao thành công của ca ghép này cũng như quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy, Ban Giám đốc Học viện đối với chương trình ghép tạng của Học viện. Đặc biệt Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã gửi thư biểu dương, khen ngợi cán bộ, thầy thuốc, nhân viên y tế Học viện Quân y.
Các kỹ thuật ghép tạng này đều đã được chuyển giao cho các bệnh viện cả trong và ngoài Quân đội thực hiện.
- 4. Là cơ sở điều trị tin cậy trong toàn quốc
Với 2 bệnh viện thực hành (Bệnh viện Quân y 103, Bệnh viện Bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác) và Viện Mô phôi lâm sàng Quân đội, Học viện Quân y là một trong những cơ sở thu dung điều trị nhiều thương bệnh binh và người bệnh lớn trong cả nước. Hiện nay, trung bình hàng năm, các cơ sở điều trị của Học viện khám bệnh cho gần 700 nghìn lượt bệnh nhân, mang lại sức khỏe, niềm vui và hạnh phúc cho người bệnh và gia đình.
Đặc biệt, việc nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật tiên tiến trong chẩn đoán, điều trị của Học viện Quân y vừa đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội vừa đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe bội đội và nhân dân trong tình hình mới. Học viện đã triển khai nghiên cứu ứng dụng tế bào và tế bào gốc trong chẩn đoán, điều trị bệnh và đã nghiên cứu ứng dụng những công nghệ mới (công nghệ sinh khối tế bào thực vật; công nghệ chiết siêu tới hạn) trong sản xuất thuốc cũng như nguyên liệu làm thuốc thu được nhiều kết quả tốt.
- Mở rộng hợp tác, hội nhập quốc tế sâu rộng
Từ năm 1954, Trường Quân y sĩ Việt Nam đã tiếp nhận đào tạo những quân y sĩ đầu tiên cho Quân giải phóng Nhân dân Lào; năm 1964, triển khai các khóa đào tạo bác sĩ cho Cămpuchia. Đến nay, Học viện đã đào tạo cho các nước Lào, Cămpuchia và gần 900 lượt cán bộ ngành y – dược ở các bậc học.
Học viện đã tích cực trong hoạt động trao đổi khoa học, phối hợp thực hiện đề tài nghiên cứu, tổ chức hội thảo khoa học quốc tế trong những năm qua và đã thu được những thành quả đáng khích lệ. Chủ trì, tham gia và phối hợp thực hiện nhiều đề tài nghiên cứu, tổ chức hội thảo khoa học với nhiều trường đại học, viện nghiên cứu của các quốc gia có trình độ y học tiên tiến, hiện đại (như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Đức, Nga, Hoa Kỳ…). Một dấu mốc quan trọng, ngày 31/12/2022 với sự hỗ trợ của 08 chuyên gia của Học viện Quân y đã giúp đỡ Bệnh viện Trung ương Quân đội 103, Quân đội Nhân dân Lào thực hiện thành công 02 ca ghép thận đầu tiên từ người hiến sống. Sự kiện này diễn ra đúng vào dịp Kỷ niệm 60 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam – Lào, 45 năm Ngày ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác Việt Nam – Lào; với thành công này đã đưa Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào vào bản đồ các quốc gia có thành tích về ghép tạng trên thế giới (đến nay đã hỗ trợ, giúp đỡ Bạn thực hiện thành công 09 ca phẫu thuật ghép thận từ người hiến sống), qua đó, góp phần quan trọng nâng cao trình độ, kinh nghiệm của đội ngũ cán bộ, giảng viên, học viên và uy tín, vị thế của Học viện.
- Thực hiện tốt chính sách xã hội
Đồng thời với việc hoàn thành tốt nhiệm vụ chuyên môn, Học viện đã tổ chức hơn 200 đoàn cán bộ, thầy thuốc tới các trung tâm điều dưỡng thương binh nặng và các địa phương vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn để khám bệnh, tư vấn sức khỏe, cấp thuốc miễn phí và tặng quà cho các thương bệnh binh, gia đình chính sách, người có công, người nghèo. Đã khám bệnh, cấp thuốc miễn phí cho hơn 200 nghìn lượt người; tặng dụng cụ y tế cho 18 bệnh xá xã, tặng 74 nhà tình nghĩa, nhà đại đoàn kết với trị giá gần 40 tỉ đồng (phần lớn do cán bộ, học viên, nhân viên quyên góp).
Từ năm 1991, Học viện Quân y được Bộ Quốc phòng giao nhiệm vụ bảo đảm quân y tại Đảo Nam Yết, thuộc quần đảo Trường Sa. Hàng năm, tổ quân y gồm có 2 bác sĩ và 3 y sĩ, kỹ thuật viên thay phiên nhau làm nhiệm vụ phục vụ tại Bệnh xá của Đảo Nam Yết.
Trong giai đoạn dịch Covid-19 (từ năm 2020) cán bộ, nhân viên, học viên, sinh viên và chiến sĩ của Học viện đã “xếp bút nghiên” lên đường chống dịch. Trước yêu cầu cấp bách của công tác phòng, chống dịch Codid-19, Học viện đã chủ động tổ chức huấn luyện cấp tốc và huy động hàng ngàn cán bộ, điều dưỡng, học viên, sinh viên tham gia, hỗ trợ phòng, chống dịch Covid-19 cho các tỉnh, thành phố trên cả nước. Kịp thời điều động lực lượng phòng, chống dịch cho các địa phương khu vực phía Bắc và Hà Nội. Tổng số 372 đ/c, trong đó: Bắc Giang: 313 đ/c (gồm: Tổ lấy mẫu XN RT-PCR: 139 đ/c; Tổ XN Amphabio: 96; BVDCTN số 2: 78). Bắc Ninh: 59 đ/c (gồm: Tổ lấy mẫu và xét nghiệm RT-PCR: 45; lực lượng phối thuộc cho BVDCTN số 1: 14 đ/c). Tăng cường cho các địa phương khu vực tại thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam phòng, chống dịch: Tổng số 367 tổ hỗ trợ điều trị, với trên 1.000 người, hoạt động tại 286 xã, phường của 20 quận huyện/TP.HCM); 162 tổ lấy mẫu diện rộng (với 651 đồng chí). Tại tỉnh Bình Dương 60 tổ (với 174 người, hoạt động tại 15 xã, phường phong tỏa); 17 tổ quân y cơ động (tại 6 huyện với 33 khu cách ly F0. Tại TP. Thuận An, tỉnh Bình Dương có 30 tổ, với 82 đồng chí, hoạt động tại 4 điểm tiêm vắc xin.
- Đã được Đảng, Nhà nước trao tặng những phần thưởng và danh hiệu cao quý, tiêu biểu như:
– Huân chương Sao vàng (2008)
– 02 Huân chương Hồ Chí Minh (1999, 2019)
– 03 danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân: Thời kỳ đổi mới (2005); Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ (2010); Thời kỳ kháng chiến chống Pháp (2014)
– 02 Huân chương Độc lập: hạngNhất (1989), hạng Ba (2014)
– 03 Huân chương Quân công: hạng Nhất (1984), hạng Nhì (1974), hạng Ba (1983)
– 02 Huân chương Chiến công: hạng Nhì (1958), hạng Nhất (1967)
– 05 Huân chương Lao động: hạng Nhất (2004, 2011, 2017, 2021), hạng Ba (2015)
– 02 Huân chương Bảo vệ Tổ quốc: hạng Ba (2005), hạng Nhì (2010)
– Huân chương Ít-xa-la hạng Nhì của Nhà nước Cộng hòa DCND Lào (2010)
– Huân chương Sahametrei của Hoàng gia Campuchia (2010)
– Huân chương Hữu nghị Sê-na của Chính phủ Campuchia (2013)
– Huân chương Anh dũng hạng Hai của Nhà nước Cộng hòa DCND Lào (2017)
– 02 Giải thưởng Hồ Chí Minh: Cụm công trình ghép tạng (2005); các cụm công trình KH&CN trong lĩnh vực Quân sự, Quốc phòng (2017)
– 10 đơn vị trực thuộc và 16 cán bộ từng công tác, học tập tại Học viện được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân, Anh hùng Lao động.
Phần thứ ba
HỌC VIỆN QUÂN Y – NHỮNG TRUYỀN THỐNG VẺ VANG
Trải qua 75 năm xây dựng và trưởng thành, các thế hệ cán bộ, học viên, nhân viên, chiến sỹ Học viện đã xây dựng được những truyền thống tốt đẹp, đó là:
- Trung thành vô hạn với Đảng với Tổ quốc và nhân dân.
- Luôn bám sát chiến trường, đơn vị và bộ đội, hết lòng vì sức khoẻ của thương binh, bệnh binh và người bệnh.
- Đồng cam cộng khổ, khắc phục khó khăn, tự lực, tự cường, yêu ngành, yêu nghề, tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vươn lên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
- Đoàn kết, thống nhất; gắn bó mật thiết với cấp uỷ Đảng, chính quyền và nhân dân các địa phương trên địa bàn đóng quân.
Trải qua chặng đường 75 năm (1949-2024) xây dựng, phát triển và trưởng thành, từ Trường Quân y sĩ Việt Nam (3/1949 – 6/1957), Trường Sĩ quan Quân y (7/1957 – 3/1962), Viện Nghiên cứu y học quân sự (3/1962 – 7/1966), đến Trường Đại học Quân y (8/1966 – 11/1981) và Học viện Quân y (từ tháng 12/1981 đến nay); các thế hệ cán bộ, giảng viên, công nhân viên, học viên, chiến sĩ Học viện Quân y đã ghi vào những trang lịch sử Học viện rất hào hùng, đồng thời xây dựng nên truyền thống tốt đẹp của Học viện Quân y. Qua thực tiễn 75 năm xây dựng và hoạt động của Học viện có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm quý báu vẫn nguyên giá trị phù hợp với tình hình hiện nay.
Một là, luôn quán triệt sâu sắc đường lối, quan điểm của Đảng và nhiệm vụ Quân đội, vận dụng đúng đắn, sáng tạo trong công tác đào tạo, nghiên cứu y học quân sự, điều trị thương bệnh binh và người bệnh.
Ngay sau khi thành lập (1949), Trường Quân y sĩ Việt Nam đã quán triệt, thực hiện theo quan điểm của Đảng về y học cách mạng và lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Lương y như từ mẫu”. Từ Trường Quân y sĩ Việt Nam (1949), Trường Sĩ quan Quân y (1957), Viện Nghiên cứu Y học Quân sự (1962) đến Trường Đại học Quân y (1966) và Học viện Quân y (từ 1981 đến nay), Đảng ủy, Ban Giám đốc Học viện qua các thời kỳ luôn quán triệt sâu sắc đường lối chính trị-quân sự, quan điểm y học quân sự của Đảng và nhiệm vụ xây dựng Quân đội để vận dụng đúng đắn, sáng tạo vào thực tiễn của nhà trường, sát với từng giai đoạn kháng chiến, hướng mọi nỗ lực của cán bộ, giảng viên, nhân viên, học viên và chiến sĩ vào việc phấn đấu, thực hiện trong đào tạo, nghiên cứu y học quân sự, điều trị thương binh, bệnh binh, hoàn thành các nhiệm vụ được giao.
Từ năm 1975 đến nay, Học viện tiếp tục quán triệt sâu sắc đường lối chính trị-quân sự của Đảng, quan điểm y học quân sự trong điều kiện đất nước thống nhất, cả nước xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở đó, Học viện tập trung xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng, củng cố niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và sự nghiệp cách mạng mà Đảng và nhân dân ta lựa chọn để cho tất cả cán bộ, giảng viên, công nhân viên, học viên, chiến sĩ nỗ lực phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ trên các mặt công tác.
Thực tiễn chứng minh, nhờ thường xuyên quán triệt và nắm vững đường lối chính trị-quân sự của Đảng, quan điểm giáo dục, đào tạo của Đảng và nhiệm vụ Quân đội để lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị trực thuộc Học viện vừa thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, vừa xây dựng đơn vị vững mạnh về mọi mặt, gắn với xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh tiêu biểu thì trong bất kỳ hoàn cảnh, từ chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc diễn ra ác liệt, nguy cơ phải đối phó với tình huống chiến tranh quy mô lớn có thể xảy ra, chiến tranh phá hoại nhiều mặt đến chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch; hay tác động tiêu cực của xã hội và cơ chế thị trường, Học viện đều hoàn thành thắng lợi các nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và Quân đội giao cho.
Hai là, thường xuyên xây dựng Học viện vững mạnh toàn diện “Mẫu mực, tiêu biểu”, lấy xây dựng chính trị làm cơ sở, phấn đấu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ Đảng, Nhà nước, Quân đội và ngành Quân y giao.
Để trở thành một trung tâm đào tạo, nghiên cứu y học quân sự mạnh và điều trị có uy tín lớn trong quân đội, trong nước và quốc tế thì bản thân Học viện phải được xây dựng vững mạnh toàn diện. Thực tiễn 75 năm xây dựng và trưởng thành, Học viện luôn coi trọng việc xây dựng bản thân mình, xây dựng tất cả các mặt đều mạnh, trong đó lấy xây dựng vững mạnh về chính trị làm cơ sở. Một Học viện có chức năng, nhiệm vụ đào tạo cán bộ y tế ở nhiều bậc học, trong đó có thạc sĩ, tiến sĩ, bác sĩ chuyên khoa 1, bác sĩ chuyên khoa 2 cho Quân đội và ngành y tế, nghiên cứu y học quân sự, điều trị thương bệnh binh và bệnh nhân thì việc xây dựng vững mạnh về mọi mặt càng có ý nghĩa đòi hỏi có những yêu cầu cao hơn.
Bên cạnh việc xây dựng Học viện Quân y vững mạnh toàn diện, “Mẫu mực, tiêu biểu” theo 5 tiêu chuẩn chung của một đơn vị Quân đội nhân dân Việt Nam (gồm: 1) Vững mạnh về chính trị. 2) Tổ chức biên chế, duy trì nghiêm các chế độ sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện giỏi. 3) Xây dựng nền nếp chính quy và quản lý kỷ luật giỏi. 4) Bảo đảm hậu cần, tài chính và đời sống bộ đội. 5) Bảo đảm tốt công tác kỹ thuật); đồng thời phải có những tiêu chuẩn đặc thù của một tổ chức sư phạm, khoa học, bệnh viện. Học viện phải là môi trường để toàn bộ các tổ chức và con người, mối quan hệ giữa các tập thể và các cá nhân toát lên bầu không khí không những về văn hóa, đạo đức, phong cách của một quân đội cách mạng, mà còn là văn hóa, đạo đức, phong cách mang tính đặc thù của từng tổ chức sư phạm, khoa học và bệnh viện.
Trong khi xây dựng Học viện vững mạnh toàn diện “Mẫu mực, tiêu biểu”, cần phải tập trung xây dựng những nhân tố cơ bản, tạo thành tiềm lực sư phạm, khoa học và bệnh viện, đảm bảo cho Học viện phát triển và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Đó là xây dựng đội ngũ cán bộ, giảng viên, nhà khoa học, bác sĩ, y sĩ, dược sĩ đủ về số lượng, có chất lượng chính trị, uy tín về sư phạm, khoa học và điều trị có mặt bằng học vấn theo tiêu chuẩn Nhà nước ngày càng cao, có cơ cấu ngày càng hợp lý, đồng đều. Đặc biệt là có một đội ngũ cán bộ đầu ngành về quản lý, đầu ngành về y học quân sự có uy tín không chỉ trong Quân đội mà với cả nước và trong khu vực. Đồng thời, quan tâm xây dựng những cơ sở vật chất, kỹ thuật, bảo đảm cho Học viện chính quy hóa và từng bước hiện đại hóa mạnh mẽ. Quan tâm xây dựng đời sống vật chất tinh thần cho cán bộ, nhân viên, học viên, chiến sĩ và người lao động để tạo động lực yên tâm công tác, phát huy khả năng cống hiến tốt hơn.
Thực tiễn 75 năm xây dựng và trưởng thành của Học viện cho thấy, đi đôi với thường xuyên xây dựng vững mạnh toàn diện, phải lấy xây dựng chính trị làm cơ sở. Xây dựng về mặt chính trị là vấn đề cơ bản, cốt yếu nhất trong xây dựng Học viện, nhằm xây dựng và tăng cường bản chất giai cấp công nhân, bản chất cách mạng của một quân đội tuyệt đối phục tùng sự lãnh đạo của Đảng. Để xây dựng Học viện vững mạnh về chính trị đòi hỏi phải thường xuyên tăng cường hoạt động công tác đảng, công tác chính trị, coi đó là một hoạt động cơ bản quyết định sự phát triển, luôn hoàn thành nhiệm vụ qua từng giai đoạn của cách mạng. Chính nhờ thường xuyên lấy xây dựng chính trị làm cơ sở – nền tảng vững chắc cho đội ngũ cán bộ, giảng viên, công nhân viên, học viên, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị vững vàng vượt qua mọi thử thách gian nguy, vất vả, Học viện đã thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước, quân đội và ngành Quân y giao trong 75 năm qua.
Ba là, chú trọng xây dựng khối đoàn kết, gắn với phát huy tinh thần tự lực tự cường, sáng tạo trong đào tạo, nghiên cứu khoa học, điều trị và xây dựng đơn vị.
Đoàn kết thống nhất là truyền thống tốt đẹp và là nguồn sức mạnh to lớn đưa quân đội ta nói chung, Học viện Quân y nói riêng phát triển và trưởng thành về mọi mặt. Đoàn kết chính là yếu tố hết sức quan trọng để tạo nên sức mạnh trong suốt quá trình xây dựng, trưởng thành của Học viện. Chính vì vậy, các thế hệ cán bộ, giảng viên, học viên, công nhân viên, chiến sĩ đã không ngừng củng cố và phát huy truyền thống đoàn kết một lòng trong thực hiện các nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học, điều trị và một số nhiệm vụ khác; cũng như thông qua quá trình phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện hoàn thiện phẩm chất của người quân nhân, quân y cách mạng trong mỗi con người công tác tại Học viện. Nhờ vậy, sức mạnh đoàn kết được nhân lên gấp bội để thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.
Thực tiễn qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và trong xây dựng, bảo vệ Tổ quốc vừa qua cho thấy, mặc dù còn khó khăn, thiếu thốn, có những lúc nhiệm vụ rất khẩn trương, nặng nề, đòi hỏi Học viện phải nỗ lực cao độ để tập trung huấn luyện, đào tạo kịp thời bảo đảm quân y chi viện chiến trường, phải đẩy nhanh tiến độ nghiên cứu các đề tài chuyên sâu phục vụ bảo đảm sức khỏe bộ đội chiến đấu, hay xử trí những ca mổ hiểm nghèo để kịp thời cứu sự sống cho bệnh nhân…Nhờ trên dưới đoàn kết một lòng, nội bộ đoàn kết chặt chẽ thành một khối thống nhất về ý chí và hành động mà Học viện đã vượt qua mọi khó khăn trở ngại, hoàn thành tốt những nhiệm vụ được giao trong từng giai đoạn cách mạng, góp phần vào thắng lợi chung của quân và dân ta.
Sức mạnh của Học viện Quân y trong xây dựng, phục vụ chiến đấu và trưởng thành nhiều mặt, do truyền thống đoàn kết thành một khối thống nhất. Sức mạnh đoàn kết đó còn được nhân lên nhiều lần, khi gắn kết với việc phát huy cao độ tinh thần tự lực tự cường, trí tuệ và sự sáng tạo của cán bộ, giảng viên, học viên, công nhân viên, chiến sĩ trong thực hiện các nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học, điều trị và xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, “Mẫu mực, tiêu biểu” gắn với xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh tiêu biểu. Để phát huy được tính chủ động, sáng tạo, tài năng và trí tuệ của cán bộ, giảng viên, công nhân viên, học viên, Học viện hết sức coi trọng các đợt thi đua do cấp trên, cũng như Học viện phát động để thu hút đông đảo tập thể và cá nhân tham gia. Qua đó, phát hiện nhân tố điển hình và nêu gương người tốt việc tốt, phát động toàn Học viện phấn đấu noi theo, làm cho những nhân tố mới, những điển hình tốt lan tỏa rộng khắp đơn vị. Kinh nghiệm xây dựng Học viện 75 năm cho thấy, nếu không coi trọng đoàn kết, không tạo được môi trường phát huy mãnh mẽ tính chủ động, sáng tạo của các tập thể, của mỗi cá nhân trong thực hiện các nhiệm vụ chính trị được giao thì Học viện sẽ không hoàn thành nhiệm vụ to lớn và trưởng thành vững mạnh như ngày nay. Luôn quán triệt và coi trọng xây dựng Học viện thành một khối đoàn kết thống nhất, gắn với phát huy tinh thần tự lực tự cường, sáng tạo trong thực hiện các nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học, điều trị và xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, đó chính là nhân tố quan trọng để Học viện Quân y hoàn thành tốt nhiệm vụ trong các giai đoạn của cách mạng.
Bốn là, xây dựng đội ngũ cán bộ, nhân viên đủ năng lực và uy tín ngang tầm nhiệm vụ, đặc biệt là cán bộ chủ trì, chuyên viên đầu ngành có phẩm chất tốt, trình độ chuyên môn cao và năng lực chỉ huy, quản lý giỏi.
Công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, nhân viên vững mạnh toàn diện là một nhiệm vụ quan trọng, góp phần nâng cao sức mạnh để Học viện thực hiện hoàn thành tốt các nhiệm vụ Đảng, Nhà nước, Quân đội, ngành Quân y giao. Nhiệm vụ xây dựng Học viện hội đủ sức mạnh để thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ chỉ thành công lớn khi có sự nỗ lực phấn đấu cao độ của toàn thể đội ngũ cán bộ, nhân viên, học viên, sinh viên, chiến sĩ và người lao động trong toàn Học viện. Vì thế, nhiệm vụ của Học viện là phải thường xuyên coi trọng công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, nhân viên và toàn bộ lực lượng vững mạnh toàn diện, trong đó có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân, có trình độ chuyên môn giỏi.
Thực tiễn qua 75 năm (1949-2024) xây dựng và phát triển của Học viện cho thấy, việc tiến hành xây dựng đội ngũ cán bộ, nhân viên và các lực lượng gắn liền với quá trình xây dựng, phát triển của Quân đội nói chung, ngành Quân y nói riêng. Học viện phải trực tiếp lựa chọn cán bộ, xây dựng từ nhỏ đến lớn, từ trình độ thấp tiến dần lên trình độ cao, bố trí theo khả năng và yêu cầu nhiệm vụ của đơn vị qua từng giai đoạn cách mạng. Với cách xây dựng đó, từ lúc đầu thành lập (1949), đội ngũ cán bộ, giảng viên chỉ có vài chục người, trong đó giảng viên chỉ có 4 người, chủ yếu là các bác sĩ dưới chế độ cũ đào tạo có lòng yêu nước đã đi theo kháng chiến, đến nay Học viện đã có có 53 giáo sư, 234 phó giáo sư; hàng trăm tiến sĩ, thạc sĩ, bác sĩ chuyên khoa cấp II và bác sĩ chuyên khoa cấp I; 15 nhà giáo Nhân dân, 42 nhà giáo Ưu tú; 19 thầy thuốc Nhân dân, 179 thầy thuốc Ưu tú; 10 chuyên viên kỹ thuật đầu ngành. Học viện đã đào tạo cho Quân đội và Nhà nước hơn 100.000 cán bộ, nhân viên y tế. Trong đó có hơn 1.200 tiến sỹ, hơn 10.000 thạc sỹ, bác sĩ nội trú, bác sĩ chuyên khoa cấp I, bác sĩ chuyên khoa cấp II; gần 30.000 bác sỹ, dược sĩ, cử nhân điều dưỡng, cử nhân kỹ thuật, sĩ quan dự bị và trên 60.000 nhân viên y tế; hoàn thành trên 1.000 đề tài khoa học, trong đó trên 220 đề tài, dự án cấp Nhà nước; trên 700 đề tài và sáng kiến cấp bộ, ngành và Học viện; trên 200 sáng kiến cải tiến kỹ thuật… Trong số đó, nhiều đồng chí trở thành tướng lĩnh, cán bộ trung cao cấp, cán bộ khoa học của Đảng và Quân đội, đã và đang đảm nhận những trọng trách quan trọng ở các đơn vị, nhà trường, học viện, trong ngành Quân y, các bệnh viện trong và ngoài Quân đội.
Để xây dựng được một đội ngũ cán bộ, nhân viên đủ năng lực và uy tín ngang tầm nhiệm vụ, đặc biệt là cán bộ chủ trì, chuyên viên đầu ngành có phẩm chất đạo đức tốt, trình độ chuyên môn cao và năng lực chỉ huy, quản lý giỏi, trước hết cần giáo dục mục tiêu cách mạng cho cán bộ, nhân viên luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng trong từng giai đoạn cách mạng. Trên cơ sở đó, xây dựng lý tưởng cách mạng và nâng cao ý thức trách nhiệm của mỗi người đối với chế độ, với Đảng, nhân dân và đơn vị mình đang công tác, nỗ lực phấn đấu thực hiện nhiệm vụ được giao. Nhờ xây dựng được đội ngũ cán bộ, y bác sĩ “vừa hồng, vừa chuyên”, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học, điều trị, Học viện đã hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao, trong đó có nhiệm vụ hoàn thành xuất sắc.
Năm là, mở rộng quan hệ hợp tác với các cơ quan, đơn vị trong và ngoài Quân đội, trong nước và quốc tế; tăng cường mối quan hệ gắn bó với chính quyền và nhân dân địa phương nơi đóng quân.
Kinh nghiệm xây dựng Học viện chứng tỏ rằng, để không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ thuật tiên tiến trong từng giai đoạn cách mạng, phải mở rộng và tăng cường đoàn kết, hợp tác chặt chẽ với các trường đại học y, dược; các bệnh viện, các cơ sở khoa học, các nhà khoa học trong và ngoài Quân đội về lĩnh vực y học nói chung và y học quân sự nói riêng để tiếp cận, phát huy trí tuệ trong thực hiện các nhiệm vụ nâng cao chất lượng đào tạo, hiệu quả trong nghiên cứu khoa học và điều trị tốt nhất.
Đến nay, Học viện đã mở rộng hợp tác, tập hợp được đông đảo các chuyên gia, các nhà khoa học trong nước để nghiên cứu, triển khai thực hiện thành công nhiều dự án, nhiều đề tài có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển của nền y học Việt Nam nói chung, y học quân sự Việt Nam nói riêng. Nhiều đề tài nghiên cứu khoa học và sáng kiến đã được tặng thưởng Huân chương Chiến công, Huân chương Lao động và Huy chương Vàng, đặc biệt cụm công trình ghép tạng được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh. Đồng thời, Đảng ủy, Ban Giám đốc Học viện thường xuyên chỉ đạo chặt chẽ việc triển khai những văn bản hướng dẫn của Bộ Giáo dục-Đào tạo, Bộ Y tế, Cục Quân y, Cục Nhà trường, Cục Khoa học Quân sự để nâng cao hiệu quả thực hiện hoàn thành tốt các nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học và điều trị.
Bên cạnh việc mở rộng quan hệ hợp tác với các cơ quan, đơn vị trong nước, Học viện cũng tăng cường mối quan hệ, hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế cả trên lĩnh vực y học và y học quân sự. Thực hiện đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước, Học viện coi việc tăng cường quan hệ, hợp tác với các trường đại học, các tổ chức quốc tế, các nhà khoa học nước ngoài là nhiệm vụ chính trị quan trọng. Vì vậy, Đảng ủy, Ban Giám đốc Học viện quán triệt, giải quyết đúng đắn mối quan hệ, hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế trên tinh thần giữ vững độc lập, tự chủ và tranh thủ sự giúp đỡ từ bên ngoài. Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, được phép của Bộ Quốc phòng, Học viện đã tiếp nhận một số trang bị kỹ thuật của Liên Xô, Trung Quốc viện trợ cho Việt Nam. Trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Học viện đã có quan hệ hợp tác với hơn 10 nước phát triển, có nhiều thành tựu y học (Nga, Cu Ba, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore…), đào tạo được nhiều cán bộ có chất lượng cao, giỏi về chuyên môn và ngoại ngữ, đóng góp quan trọng trong xây dựng đội ngũ lãnh đạo, chuyên viên đầu ngành của nhiều chuyên ngành. Các hoạt động hợp tác quốc tế thông qua các chương trình hợp tác đào tạo và trao đổi học thuật đã thu được kết quả nhất định, đã gây dựng quan hệ với một số đối tác tin cậy. Trong những năm gần đây, Học viện đã gửi hơn 300 cán bộ đi đào tạo ở nhiều nước trên thế giới.
Thực tiễn 75 năm xây dựng và trưởng thành, Học viện thường xuyên tăng cường mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với chính quyền và nhân dân địa phương nơi đóng quân. Trong những năm kháng chiến chống Pháp và những năm sơ tán chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, nhà trường phải đóng quân trong các làng xã, dựa vào sự giúp đỡ che chở, đùm bọc của chính quyền và nhân dân địa phương, nên đã xây dựng được mối tình đoàn kết, hiệp đồng giữa các tổ chức, lực lượng trong toàn Học viện với chính quyền và nhân dân địa phương, góp phần hoàn thành các nhiệm vụ chính trị được giao. Để đền đáp công lao của chính quyền và nhân dân các địa phương, hàng năm, Học viện cử đoàn cán bộ, y bác sĩ đến khám bệnh, cấp thuốc miễn phí và tặng quà đối với những gia đình chính sách ở các địa phương từng đóng quân. Đây là chủ trương đúng đắn của Học viện, cũng là bản chất, truyền thống tốt đẹp “Uống nước nhớ nguồn” của “Bộ đội Cụ Hồ”.
Những bài học kinh nghiệm rút ra qua 75 năm xây dựng và trưởng thành của Học viện là tài sản quý báu đến nay vẫn còn nguyên giá trị để thế hệ cán bộ, giảng viên, công nhân viên, học viên, chiến sĩ hôm nay và mai sau tiếp tục kế thừa, vận dụng phát triển sáng tạo, nhằm phấn đấu xây dựng Học viện chính quy, khoa học, hiện đại, phát triển thành Trường hàng đầu trong Quân đội, trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học và điều trị có uy tín lớn trong nước, khu vực và quốc tế./.