Công bố luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Trần Hải Yến; Ngành: Nội khoa

Tên đề tài luận án: “Nghiên cứu tình trạng methyl hóa gen SEPTIN9 trong huyết tương và mẫu mô ung thư ở bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan.

Ngành:  Nội khoa                            Mã số:  9 72 01 07

Họ và tên nghiên cứu sinh:  Trần Hải Yến   

Họ và tên người hướng dẫn: 

1. TS Hồ Hữu Thọ

2. PGS, TS Dương Quang Huy

Cơ sở đào tạo: Học viện Quân y

Tóm tắt những đóng góp mới của luận án:

Đây là công trình đầu tiên tại Việt Nam xác định mức độ mSEPT9 bằng kỹ thuật Semi-nested quantitative RT-PCR với đầu dò Taqman cùng công nghệ mẫu dò khóa kéo dài (ExBP) trên mẫu huyết tương của 133 bệnh nhân UTBMTBG, 70 bệnh nhân BGMT, 41 người khỏe mạnh (NKM) và 58 mẫu mô ung thư. Kết quả cho thấy:

– Trên 58 bệnh nhân thu được đồng thời mẫu mô ung thư và mẫu huyết tương ghi nhận giá trị delta Ct của mSEPT9 trong huyết tương (trung vị (tứ phân vị): 22,93 (13,77 – 26,82)), cao hơn rõ so với giá trị tương ứng trong mẫu mô (trung vị (tứ phân vị): 9,20 (6,74 – 16,88)), p < 0,001. Mức độ mSEPT9 huyết tương và mô u có tương quan thuận, mức độ vừa (r = 0,33; p < 0,01), mối tương quan này rõ hơn ở nhóm có đặc điểm mô học điển hình, khối u lớn (> 50 mm), tổn thương lan tỏa hai thùy, giai đoạn tiến triển (BCLC B/C/D), không xơ gan và AFP huyết tương ≤ 400 ng/mL.

 – Mức độ mSEPT9 huyết tương có liên quan ý nghĩa với tổn thương gan và chức năng gan, cũng như một số yếu tố phản ánh sự tiến triển của khối u như huyết khối TMC, đường kính khối u > 50 mm (p = 0,01), tổn thương hai thùy gan (p = 0,004), và nồng độ AFP huyết tương ở ngưỡng > 20 ng/mL (p = 0,04), tuy nhiên không liên quan đến tuổi, giới và các triệu chứng lâm sàng.

– mSEPT9 huyết tương đơn lẻ có giá trị chẩn đoán tốt UTBMTBG so với nhóm tham chiếu chung với AUC = 0,827, tại điểm cắt 26,94 chu kỳ có độ nhạy 82,71% và độ đặc hiệu 72,07%; so với nhóm BGMT với AUC = 0,824, tại điểm cắt 28,25 chu kỳ có độ nhạy 84,21%; độ đặc hiệu 72,86%. Đặc biệt, mSEPT9 vẫn cho hiệu quả chẩn đoán tốt UTBMTBG có AFP ≤ 20 ng/mL (AUC = 0,817; OR = 18,67; p < 0,001) và chẩn đoán khá UTBMTBG giai đoạn BCLC 0/A (AUC = 0,771, OR = 9,23; p < 0,001). Phối hợp mSEPT9 với AFP huyết tương có giá trị chẩn đoán rất tốt UTBMTBG với BGMT (AUC 0,90, độ nhạy 87,22% và độ đặc hiệu 77,14%), cao hơn rõ so với khi chỉ sử dụng từng dấu ấn, p < 0,001.

– Giá trị delta Ct của mSEPT9 là yếu tố liên quan độc lập với tình trạng mắc UTBMTBG (OR = 0,86; 95% CI: 0,81 – 0,92; p < 0,001), bên cạnh các yếu tố như tuổi, AFP huyết tương và tình trạng HBsAg dương tính.

TOÀN VĂN LUẬN ÁN CỦA NCS TRẦN HẢI YẾN