Công bố luận án của nghiên cứu sinh Phạm Châu; Ngành Nội khoa
TRANG THÔNG TIN VỀ NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
Tên đề tài luận án: “Nghiên cứu đột biến vùng khởi động gen hTERT và biểu hiện hTERT mRNA trong máu ngoại vi ở bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào gan có HBsAg dương tính”.
Ngành: Nội khoa Mã số: 9 72 01 07
Họ và tên nghiên cứu sinh: Phạm Châu
Họ và tên người hướng dẫn:
1. TS. Ngô Tất Trung
2. TS. Dương Quang Huy
Cơ sở đào tạo: Học viện Quân y
Tóm tắt những đóng góp mới của luận án
Đây là công trình đầu tiên tại Việt Nam xác định đồng thời đột biến hTERT C228T và biểu hiện hTERT – mRNA trong máu ngoại vi ở bệnh nhân UTBMTBG có HBsAg (+), so sánh với các thông số tương ứng ở bệnh nhân xơ gan có HBsAg (+) và viêm gan B mạn tính. Kết quả ghi nhận:
– Tỷ lệ đột biến hTERT C228T trong máu ngoại vi ở bệnh nhân UTBMTBG có HBsAg (+) là 25,2%, không phát hiện đột biến này ở bệnh nhân xơ gan nhiễm HBV và viêm gan B mạn, p < 0,001. Đột biến hTERT C228T có giá trị chẩn đoán UTBMTBG với độ đặc hiệu 100%. Kết hợp đột biến hTERT C288T với AFP huyết tương trong chẩn đoán UTBMTBG so với nhóm xơ gan, viêm gan B mạn và nhóm không ung thư đều có AUC đạt mức tốt (giá trị lần lượt là 0,81; 0,88 và 0,85), cao hơn so với giá trị tương ứng khi sử dụng AFP đơn thuần (giá trị AUC lần lượt là 0,76; 0,84; 0,81).
– Tỷ lệ hTERT mRNA (+) trong máu ngoại vi ở bệnh nhân UTBMTBG có HBsAg (+) là 16,4%, cao hơn nhóm xơ gan là 8,1% và viêm gan B mạn là 3,1%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,001). hTERT mRNA (+) có nguy cơ UTBMTBG cao hơn 6,19 lần (95%CI: 1,82 – 21,05) và 3,71 lần (95%CI: 1,63 – 8,48) so với khi hTERT mRNA âm tính (nhóm chứng viêm gan B mạn và nhóm không ung thư, theo thứ tự), p = 0,001, nhưng không có giá trị khi đối chứng với nhóm xơ gan.
– Tỷ lệ đột biến hTERT C228T tăng dần theo mức độ suy gan theo thang điểm Child – Pugh, liên quan đến tình trạng di căn hạch ổ bụng (p = 0,01), huyết khối tĩnh mạch cửa (p = 0,04) và giai đoạn bệnh.
– Bệnh nhân UTBMTBG mang đột biến hTERT C228T có thời gian sống còn ngắn hơn có ý nghĩa thống kê so với bệnh nhân không có đột biến (21,3 ± 2,7 so với 30,7 ± 1,5 tháng, theo thứ tự, p = 0,005).
Kết quả nghiên cứu cho thấy đột biến hTERT C228T và biểu hiện hTERT mRNA trong máu ngoại vi có thể là dấu ấn sinh học tiềm năng trong chẩn đoán và tiên lượng UTBMTBG.