Công bố luận án của nghiên cứu sinh Hồ Đăng Mười; Ngành: Khoa học Thần kinh
TRANG THÔNG TIN VỀ NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
Tên đề tài luận án: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và biến thể một số gen ở trẻ mắc động kinh kháng thuốc
Ngành: Khoa học Thần kinh
Mã số: 9 72 01 59
Họ và tên nghiên cứu sinh: Hồ Đăng Mười
Họ và tên Người hướng dẫn:
1. PGS. TS. Nguyễn Đức Thuận
2. PGS. TS. Nguyễn Đăng Tôn
Cơ sở đào tạo: Học viện Quân y
Tóm tắt những đóng góp mới của luận án:
Trong chuyên ngành thần kinh trẻ em, động kinh kháng thuốc là mối quan tâm hàng đầu của các nhà lâm sàng bởi sự phức tạp trong phân loại, xác định căn nguyên, và lựa chọn phác đồ điều trị phù hợp. Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về các yếu tố nguy cơ động kinh kháng thuốc đã được báo cáo, Tuy nhiên tầm quan trọng và các yếu tố nguy cơ lại khác nhau trong mỗi nghiên cứu. Tại Việt Nam, theo hiểu biết của chúng tôi, đã có một số nghiên cứu xác định một số yếu tố nguy cơ liên quan đến động kinh kháng thuốc, công trình nghiên cứu của chúng tôi tiếp tục khẳng định các yếu tố nguy cơ trên lâm sàng đồng thời phân tích các biến thể di truyền ở trẻ em bằng phương pháp giải trình tự Sanger và sử dụng kỹ thuật giải trình tự toàn bộ hệ gen mã hóa (WES) trên một nhóm trẻ mắc động kinh kháng thuốc cụ thể. Kết quả chúng tôi đã xác định 6 yếu tố nguy cơ độc lập bao gồm: tiền sử trạng thái động kinh, tiền sử co giật sơ sinh, tiền sử co giật do sốt, chậm phát triển tâm thần – vận động, bất thường ĐNĐ và CHT sọ não. Về lĩnh vực di truyền, thông qua giải trình tự Sanger và ghi nhận được kiểu gen dị hợp tử SCN1A rs2298771AG đóng vai trò là yếu tố nguy cơ dẫn đến động kinh kháng thuốc. Kiểu gen dị hợp tử SCN1A rs3812718CT đóng vai trò là yếu tố bảo vệ khỏi nguy cơ kháng thuốc. Ngoài ra, giải trình tự toàn bộ hệ gen mã hóa (WES) đã xác định được 10 biến thể nguyên nhân/nguy cơ ở 9/11 trường hợp trẻ có biểu hiện của bệnh não động kinh khởi phát sớm. Trong đó, hai biến thể TSC1 c.1888_1891del (p.K630Qfs*22) và SCN1A (NM_001165963) c.638C>A (p.S213*) dẫn đến phức hợp xơ cứng củ và hội chứng Dravet ở trẻ em Việt Nam.