Công bố luận án của nghiên cứu sinh Bùi Văn Tuấn; Ngành Nội khoa
TRANG THÔNG TIN VỀ NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
Tên đề tài luận án: Nghiên cứu nồng độ Hepcidin và khả năng gắn sắt toàn phần huyết tương ở bệnh nhân bệnh thận mạn tính giai đoạn cuối.
Ngành: Nội khoa Mã số: 972 01 07
Họ và tên nghiên cứu sinh: Bùi Văn Tuấn
Họ và tên người hướng dẫn:
1. PGS. TS. Lê Việt Thắng
2. PGS. TS. Đặng Thành Chung
Cơ sở đào tạo: Học viện Quân y
Tóm tắt những đóng góp mới của luận án
Sắt có vai trò quan trọng trong quá trình tạo hồng cầu, điều trị thiếu máu ở bệnh nhân bệnh thận mạn tính. Việc bù sắt dựa vào tình trạng dự trữ sắt của mỗi bệnh nhân. TIBC là tổng lượng protein vận chuyển sắt, có vai trò trong đánh giá tình trạng sắt. Hepcidin là một peptid do gan tiết có vai trò chính trong điều hòa nồng độ sắt huyết tương.
Kết quả đề tài cho thấy: Nhóm bệnh có nồng độ Hepcidin cao hơn (3,14 ng/mL so với 2,8 ng/mL, p < 0,005), TIBC thấp hơn (51,61 µmol/l so với 70,39 µmol/l, p < 0,001) nhóm tham chiếu. Tỷ lệ tăng Hepcidin huyết tương là 35,0% và tỷ lệ giảm TIBC là 28,7%. Số bệnh nhân vừa tăng Hepcidin và giảm TIBC chiếm 7,6%. Dựa vào TIBC, tình trạng sắt huyết tương được tính trong nghiên cứu này: Tỷ lệ thiếu sắt tuyệt đối là 39,5%, thiếu sắt chức năng là 21,7%, đủ sắt là 22,3%, thừa sắt là 16,6%. Nồng độ Hepcidin tăng ở nhóm bệnh nhân có số lượng nước tiểu < 500 ml/24h, thiếu máu mức độ nặng, quá tải sắt và CRP tăng. Tuổi ≥ 60, giới nam, chỉ số khối cơ thể (BMI) thấp là 3 yếu tố nguy cơ giảm TIBC huyết tương.
Nồng độ và tỷ lệ tăng Hepcidin trước điều trị ở nhóm Hb < 100 g/l cao hơn nhóm Hb ≥ 100 g/l sau 3 tháng điều trị, p < 0,05. Hepcidin trước điều trị có giá trị dự báo Hb không đạt mục tiêu sau 3 tháng điều trị, với AUC = 0,803; p < 0,005.