Điều trị

16h56 | 24/07/2014

Với 2 Bệnh viện thực hành và Trung tâm Công nghệ Phôi, Học viện Quân y trở thành một trong những cơ sở thu dung điều trị nhiều thương bệnh binh và người bệnh lớn trong cả nước. Hiện nay, trung bình hàng năm, các cơ sở điều trị của Học viện khám bệnh cho trên 220.000 lượt người, thu dung điều trị trên 30.000 lượt bệnh nhân.
Cả hai bệnh viện đã ứng dụng thành công nhiều kỹ thuật tiên tiến, công nghệ hiện đại vào điều trị. Hiện nay, 2 Bệnh viện giữ vị trí đầu ngành trong nhiều lĩnh vực. Đầu ngành về điều trị bỏng của cả nước, đầu ngành của Quân đội trong điều trị bệnh nghề nghiệp, điều trị bệnh nhân tâm thần…
1. Bệnh viện 103: Là Bệnh viện huấn luyện của Học viện Quân y, Bệnh viện đa khoa hạng I có các chuyên khoa tuyến cuối của Quân đội.
Bệnh viện luôn năng động, sáng tạo, đi tắt đón đầu, tiếp cận trình độ y học hiện đại của khu vực và Quốc tế, hoàn thành đặc biệt xuất sắc nhiệm vụ thu dung, cấp cứu, điều trị.
Tổng số BN khám                 : 104.000 lượt người/năm;
Cấp cứu                                 : 14.000 lượt người/năm;
Thu dung điều trị                    : 20.200 bệnh nhân/ năm;
Phẫu thuật trung bình             : 7.392 cas/ năm (phẫu thuật lớn =74%);
Xét nghiệm cận lâm sàng     : 2.000.000 xét nghiệm/năm;
Điều trị phục hồi chức năng  : 28.000 lượt người/năm;
Truyền 1.000.000 ml máu bảo đảm an toàn.
Những năm gần đây, mỗi năm tổ chức khám bệnh, tư vấn sức khoẻ, tặng quà, cấp thuốc miễn phí cho 15.000 lượt thương binh, các đối tượng chính sách và nhân dân ở vùng sâu, vùng xa. Tổ chức khám bệnh theo tuyến cho hàng nghìn lượt người tại các nhà máy, xí nghiệp; công, nông trường; giám định y khoa cho hàng trăm lượt người.
Nhiều kỹ thuật, xét nghiệm bậc cao và chuyên sâu được áp dụng vào khám và điều trị, tiếp cận trình độ y học khu vực và quốc tế như: Ghép thận, ghép gan, ghép tim, mổ tim mở, tán sỏi ngoài cơ thể, thụ tinh trong ống nghiệm, thay thuỷ tinh thể...
Thành công trong lĩnh vực ghép tạng: Bệnh viện 103 - Học viện Quân y đã thực hiện thành công các ca ghép thận, ghép gan, ghép tim đầu tiên trên người ở Việt Nam:
-  Ghép thận: Năm 1992 ca ghép thận trên người lần đầu tiên tại Việt Nam được thực hiện thành công tại Học viện Quân y. Đến nay, toàn quốc đã có hàng trăm bệnh nhân được cứu sống nhờ kỹ thuật ghép thận. Sau thành công trong việc ghép thận, từ 1997 - 2003, Học viện Quân y được Bộ Y tế giao là đơn vị chủ trì dự án ghép tạng. Cụm công trình ghép tạng của Học viện Quân y đã được Nhà nước tặng thưởng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ năm 2005.
- Ghép gan: Học viện Quân y đã tập hợp được các Giáo sư, Bác sĩ đầu ngành trong và ngoài quân đội, chuyên gia nước ngoài và đã tổ chức ca ghép gan trên ng­ười đầu tiên thành công tại Việt Nam (31/01/2004) từ đó chuyển giao kỹ thuật cho các cơ sở y tế khác.
- Ghép tim: kế thừa kết quả của công trình ghép tim thực nghiệm ngày 17 tháng 6 năm 2010 Học viện Quân y đánh dấu bước ngoặt của ngành Y tế thực hiện thành công ca ghép tim trên người đầu tiên tại Việt Nam.
Đến nay đã chuyển giao và phối hợp 11 bệnh viện trong cả nước thực hiện ghép thận thành công trên 300 bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối và 4 bệnh viện thực hiện ghép gan thành công cho 12 bệnh nhân bị các bệnh về gan, mật giai đoạn cuối.
2. Viện Bỏng Quốc Gia: Khám và điều trị cho các bệnh nhân bỏng, di chứng bỏng, vết th­­ương các loại trong và ngoài quân đội
Biên chế giư­ờng bệnh         : 320 (270 dân và 50 quân, chính sách).
Tỷ lệ sử dụng gi­ường           : 90% - 95%
Tổng số BN khám                 : 7.000 BN/năm
-  Bỏng mới                            : 5.500 BN/năm
-  Di chứng bỏng                   : 1.500 BN/năm
Tổng số BN điều trị nội trú   : 5.000 BN/năm
- Bỏng mới                             : 3.500 BN
- Di chứng bỏng                    : 1.000 BN
- Khác                                     : 500 BN
Bệnh nhân nghèo chiếm       : 80% tổng số BN thu dung
Một số thành tích về điều trị bỏng:
- Hạ thấp tỷ lệ tử vong từ 7% – 10% xuống 1,5 % – 1,7 %.
- Nâng cao khả năng cứu sống bệnh nhân bỏng:
- Cứu sống đ­ược bệnh nhân ng­ười lớn có diện tích bỏng chung đến 90% diện tíchcơ thể (DTCT) và bỏng sâu đến 85% DTCT.
- Cứu sống bệnh nhân trẻ em có diện tích bỏng chung đến 70% DTCT và bỏng sâu đến 63% DTCT .
- Cứu sống nhiều bệnh nhân bỏng có các biến chứng nặng nh­ư: nhiễm khuẩn huyết, suy thận cấp, bỏng hô hấp, bỏng có nhiều bệnh nội khoa nặng kết hợp...
- Giảm ngày nằm điều trị trung bình từ  18 – 21 ngày xuống còn 14 -16 ngày.
3. Trung tâm ĐT NC Công nghệ phôi:
Trung tâm Công nghệ phôi có bước tiến vượt bậc, chỉ trong thời gian ngắn, trở thành một trong những cơ sở y tế có uy tín cao về chất lượng, hiệu quả thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và thụ tinh trong ống nghiệm cho các cặp vợ chồng hiếm muộn.  

 

Tin cùng chuyên mục


CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ HỌC VIỆN QUÂN Y - BỘ QUỐC PHÒNG
Địa chỉ: Số 160 - Đường Phùng Hưng - Phường Phúc La - Quận Hà Đông - Thành phố Hà Nội
Trưởng ban biên tập: Thiếu tướng GS. TS. Đỗ Quyết - Giám đốc Học viện Quân y
Giấy phép số 122/GP-TTĐT ngày 23/09/2008 của Bộ TT&TT
Thiết kế bởi Ban CNTT - Phòng KHQS - Học viện Quân y