|
I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN.
1. Lịch sử thành lập.
Đội Điều trị 3 (tiền thân của Bệnh viện 103) thành lập ngày 20 tháng 12 năm 1950 tại thôn Trung giáp, xã Anh Dũng, huyện Phù ninh, tỉnh Phú Thọ. Buổi đầu thành lập, Đội chỉ có trên 60 người. Tháng 8 năm 1958 , theo Quyết định của Tổng cục Hậu cần, Đội Điều trị 3 được chuyển thành Viện Quân y 103. Hiện nay Bệnh viện đã trở thành bệnh viện thực hành của Quân đội trực thuộc Học viện Quân y, bệnh viện đa khoa loại I, biên chế 550 giường (trong đó có một số khoa tuyến cuối của Quân đội).
2. Biên chế tổ chức:
Gần 60 năm xây dựng và trưởng thành, Bệnh viện đã có những bước phát triển vượt bậc về quy mô, tổ chức biên chế và chức năng nhiệm vụ. Các đơn vị trực thuộc bệnh viện gồm: 7 phòng, ban chức năng, 42 bộ môn – khoa, với trên 1000 cán bộ, nhân viên, chiến sỹ: , trong đó có 03 Giáo sư, 35 Phó Giáo sư, 71 Tiến sỹ, 94 Thạc sỹ, 49 Chuyên khoa KII, 38 Chuyên khoa I, 86 đồng chí được phong tặng danh hiệu Thầy thuốc Ưu tú, 3 đồng chí được phong tặng Thầy thuốc Nhân dân, 2 đồng chí được phong tặng Nhà giáo Nhân dân, 6 đồng chí được phong tặng Nhà giáo Ưu tú . Đảng bộ Bệnh viện là tổ chức đảng cấp trên trực tiếp cơ sở, gồm 2 đảng bộ cơ sở và 46 chi bộ cơ sở trực thuộc, với trên 750 đảng viên.
3.Chức năng, nhiệm vụ.
Bệnh viện 103 là bệnh viện thực hành của Quân đội, trực thuộc Học viện Quân y, bệnh viện đa khoa loại một có một số chuyên khoa tuyến cuối của Quân đội, với chức năng nhiệm vụ:
+ Huấn luyện lâm sàng, cận lâm sàng cho các đối tượng học viên đại học, sau đại học và trên đại học ngành Y, Dược. Đảm nhiệm gần 70% khối lượng huấn luyện của Học viện Quân y.
+ Khám, chữa bệnh theo tuyến và khu vực cho bộ đội, các đối tượng chính sách, bảo hiểm Y tế và nhân dân; phục vụ tuyến, sẵn sàng ứng cứu các vụ dịch, thảm hoạ, lũ lụt; đảm bảo quân y đảo Nam Yết (Trường Sa).
+ Nghiên cứu khoa học phục vụ cho yêu cầu phát triển Y học nói chung và Y học Quân sự nói riêng ứng dụng vào nâng cao chất lượng huấn luyện, điều trị.
II. THÀNH TÍCH TRÊN CÁC MẶT CÔNG TÁC
Trải qua gần 60 năm xây dựng và phát triển, với tinh thần tự lực tự cường, chủ động khắc phục khó khăn tất cả vì tính mạng và sức khoẻ của người bệnh; vì sự phát triển nguồn nhân lực cán bộ Y, Dược Bệnh viện đã không ngừng phát triển, luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.
1. Thành tích trong huấn luyện đào tạo.
Bệnh viện quán triệt và xác định huấn luyện, đào tạo là một trong những nhiệm vụ trung tâm.
Trung bình hàng năm Bệnh viện huấn luyện cho 30 lớp đại học và sau đại học, với hơn 1.000 học viên, 100.000 giờ huấn luyện (lý thuyết chiếm 10%, thực hành chiếm 90 %). Trực tiếp hướng dẫn gần 3.00 nghiên cứu sinh, cao học, chuyên khoa I, chuyên khoa II và bác sỹ nội trú; cử hàng trăm lượt giảng viên đi giảng dạy sau đại học tại các cơ sở y tế trong và ngoài Quân đội, Đến đầu năm 2009 Bệnh viện đã cùng với Học viện đào tạo được trên 500 Tiến sỹ; hơn 1.500 Thạc sỹ; hơn 4000 bác sỹ chuyên khoa I, chuyên khoa II. Đây chính là nguồn nhân lực bậc cao đóng vai trò quan trọng đối với việc ứng dụng kỹ thuật tiên tiến, công nghệ hiện đại để phát triển chuyên môn cho các bệnh viện Quân đội, đồng thời góp phần phát triển chuyên môn cho Ngành Y tế; nhiều cán bộ do Bệnh viện đào tạo đã trở thành những thầy thuốc, nhà giáo, cán bộ khoa học, cán bộ quản lý có uy tín; nhiều đồng chí đã trở thành những cán bộ chủ trì các bệnh viện, các trường đại học y các sở y tế của Ngành Quân y và Ngành Y tế. Ngoài ra Bệnh viện còn bồi dưỡng tại chức, đào tạo chuyên khoa sơ bộ cho hàng trăm bác sỹ, kỹ thuật viên cho các bệnh viện tuyến trước và trao đổi, chuyển giao kỹ thuật cho các bệnh viện: Viện 4, Viện 6, Viện 7, Viện 91, Viện 110, Viện 211, Viện 73 vv...
Đối với nhiệm vụ đào tạo giúp y tế các địa phương, y tế cơ sở, chương trình y tế công đồng, trong 10 năm gần đây, đã đào tạo cho vùng sâu, vùng xa 2.800 bác sỹ, hơn 3.200 nhân viên y tế góp phần quan trọng vào khắc phục tình trạng thiếu thiếu hụt số lượng lớn thầy thuốc, nhân viên y tế ở tuyến cơ sở của cả quân và dân y, nhất là các địa bàn vùng sâu, vùng xa.
Phát triển bình quân từ 10 đến 15 giảng viên / năm; hiện đội ngũ giảng viên của Bệnh viện hiện có 209 đồng chí gồm Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Thạc sĩ, chuyên khoa I, chuyên khoa II v.v.... 100% các bộ môn đã biên soạn lại giáo trình, giáo án và xây dựng kế hoạch bài giảng. Xây dựng lại chương trìnnh huấn luyện đào tạo bác sỹ quân y 6 năm theo hướng đổi mới. Hàng năm, các chỉ tiêu và khối lượng huấn luyện ở các bộ môn đều vượt trung bình 130 – 150 % so với chỉ tiêu được giao.
2. Thành tích trong thu dung, cấp cứu, điều trị.
Bệnh viện đã khám cho trung bình 104.000 lượt người, cấp cứu 14.000 lượt người, thu dung điều trị 20.200 bệnh nhân/ năm. Tỷ lệ sử dụng giường là 156,29%. Ngày điều trị trung bình là 13,15 ngày/ 1 bệnh nhân. Đã tiến hành phẫu thuật trung bình 7.392 cas/ năm (mổ lớn =74%), làm 2.000.000 xét nghiệm cận lâm sàng, điều trị phục hồi chức năng 28.000 lượt người, truyền 1.000.000 ml máu bảo đảm an toàn. Mặt khác, theo sự phân công của Bộ Quốc phòng, hàng năm Bệnh viện đã chủ động giúp đỡ về chuyên môn cho các bệnh viện tuyến trước:
Tổ chức các đoàn cán bộ y tế với hàng trăm lượt người, khám cho bình quân 5 đến 6 nghìn lượt người cho các trung tâm điều dưỡng thương binh nặng khu vực phía bắc (Bắc Ninh, Nam Định, Hà Nam, Hà Nội,...), cho nhân dân ở một số vùng sâu vùng xa. Khám bệnh theo tuyến cho hàng nghìn lượt người ở các nhà máy, xí nghiệp, công, nông trường.Tổ chức giám định y khoa cho TB 100 lượt người/năm.
Công tác thu dung, cấp cứu, điều trị, làm xét nghiệm cận lâm sàng đạt 150% so với chỉ tiêu.
- Công tác Dược đã phát triển mạnh bảo đảm đầy đủ, kịp thời thuốc, vật tư y tế cho cấp cứu, điều trị và huấn luyện. Trang bị nhiều loại máy mới, sản xuất pha chế 60 mặt hàng thuốc đảm bảo chất lượng điều trị; các loại thuốc do Bệnh viện sản xuất có chất lượng tốt hoàn toàn thay thế được cho thuốc nhập, giá thành hạ, từ đó giảm chi phí cho người bệnh trong quá trình điều trị từ 20 đến 30%.
- Trình độ chuyên môn các khối Nội, Ngoại chuyên khoa và Cận lâm sàng phát triển đều, trong đó nhiều kỹ thuật mũi nhọn, các xét nghiệm bậc cao và chuyên sâu được áp dụng, tiếp cận trình độ y học khu vực và quốc tế như: Ghép thận, ghép gan, mổ tim mở, tán sỏi ngoài cơ thể, thụ tinh trong ống nghiệm, thay thuỷ tinh thể bằng phương pháp Pha - cô, phẫu thuật nội soi, vi phẫu, soi màng phổi, soi phế quản, cấy máy tạo nhịp vĩnh cửu, điều trị rối loạn nhịp; can thiệp mạch các cơ quan tim mạch, não, tiêu hoá; là một trong hai bệnh viện ở miền bắc đã thành công trong thực hiện kỹ thuật tán sỏi mật qua da. Hiện nay Bệnh viện đang giữ vị vị trí đầu ngành trong điều trị bệnh nghề nghiệp, bệnh tâm thần, là bệnh viện đóng vai trò chủ yêú trong nghiên cứu, thực hiện và chuyển giao kỹ thuật ghép tạng: như ghép gan, ghép thận. Hiện nay, Bệnh viện đã ghép thành công ca ghép thận thứ 39 mang lại sức khoẻ và niềm vui cho người bệnh
Đội ngũ cán bộ, nhân viên có tinh thần trách nhiệm cao trong khám và điều trị, với phương châm: tất cả vì sức khoẻ và tính mạng của người bệnh. Chất lượng, hiệu quả điều trị không ngừng nâng cao, Bệnh viện đã thực sự trở thành địa chỉ điều trị tin cậy của bệnh nhân. Hàng năm có hàng trăm lá thư cảm ơn hoặc bài viết trên các báo chí của địa phươg và trung ương ca ngợi tinh thần tận tuỵ cứu chữa, phục vụ bệnh nhân của thầy thuốc Bệnh viện 103.
3- Thành tích trong công tác nghiên cứu khoa học và phát triển kỹ thuật.
Lãnh đạo, chỉ huy Bênh viện xác định nghiêncứukhoa học, phát triển kỹ thuật là một nhiệm vụ then chốt. Thực hiện phương châm đi tắt đón đầu trong nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; lấy phát triển khoa học làm động lực nâng cao chất lượng đào tạo và điều trị, đồng thời có giải pháp đồng bộ trong tập hợp lực lượng; phát huy nhiệt tình, trí tuệ của đội ngũ cán bộ khoa học. Cùng với Học viện, Bệnh viện đã trở thành một trong những đơn vị đi đầu trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ và đã đạt được những bước phát triển đột biến.
Trong 10 năm qua, Bệnh viện đã chủ trì 4 đề tài cấp nhà nước, tham gia 58 đề tài nhánh cấp Nhà nước; 94 đề tài và nhánh đề tài cấp Bộ Quốc phòng; 485 đề tài cấp cơ sở. Trong đó có những đề tài thực hiện trong nhiều năm và có giá trị kinh tế cao như: ghép thận, ghép gan, ghép tim thực nghiệm, thụ tinh trong ống nghiệm, đánh giá hậu quả chất độc DIOXIN v.v... Tham gia “ Cụm công trình ghép tạng” là cơ sở khoa học để thực hiện thành công ca ghép thận, ghép gan đầu tiên trên ngươì tại Việt Nam. Công trình này đã được lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các nhà khoa học đánh giá cao, đã tạo nên bước tiến vượt bậc của ngành Y tế nước nhà. Về thành công của ca ghép gan, nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương đánh giá: “Một thành tựu có tính lịch sử của Y học nước nhà... đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của của Y học trong việc ứng dụng các thành tựu Y học hiện đại của nhân loại vào trong việc chăm sóc bảo vệ sức khoẻ nhân dân”. Với thành tích đặc biệt xuất sắc này Học viện đã được Chủ tịch nước tặng Huân chương Lao động hạng Nhất. Đến nay đã chuyển giao và phối hợp với 11 bệnh viện trong cả nước thực hiện thành công trên 240 ca ghép thận trên người và 4 bệnh viện thực hiện thành công 12 ca ghép gan trên người. Về giá trị kinh tế, so với thế giới chi phí cho một ca ghép thận tại Việt Nam rẻ hơn 3 – 5 lần, chi phí cho một ca ghép gan ở Vệt Nam rẻ hơn 2 – 4 lần. Thành công của kỹ thuật ghép gan, ghép thận trên ngưòi là một thành tựu khoa học có ý nghĩa to lớn về kinh tế, xã hội và ý nghĩa nhân đạo sâu sắc. Đã mở ra cơ hội mang lại sự sống cho hàng trăm người Việt Nam mắc các bệnh hiểm nghèo về gan, thận. Đồng thời là động lực thúc đẩy một loạt chuyên ngành Y học phát triển. Với giá trị khoa học và giá trị thực tiễn đặc biệt xuất sắc, “ Cụm công trình Ghép tạng” được Đảng, Nhà nước tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học và công nghệ. Có 63 sáng kiến cải tiến kỹ thuật, (trong đó có 5 sáng kiến cấp Bộ Quốc phòng và 58 sáng kiến cấp cơ sở). Bệnh viện đã tổ chức và tham gia 5 lần Hội thao Kỹ thuật tuổi trẻ ngành Y tế khu vực Hà Nội, tham gia 4 lần Hội nghị khoa học ngành Y tế , mở rộng hợp tác NCKH với nhiều tổ chức y tế nước ngoài.
Các kỹ thuật mới được ứng dụng phổ biến trong điều trị như: mổ vi phẫu, phẫu thuật nội soi, mổtim mở, can thiệp mạch, chuyển vạt da có cuống mạch, đóng đinh nội tuỷ có chốt, xạ trị áp sát ung thư đại tràng trước mổ, kết xương nẹp vít vào cột sống ở bệnh nhân chấn thương cột sống thắt lưng, mở khí quản theo phương pháp Ciaglia, sinh thiết xuyên thành phế quản, nội soi nghiêng lấy sỏi mật ngược dòng, châm tê, gây tê thân thần kinh, châm tê kết hợp với gây tê, gây tắc động mạch phổi phế quản trong điều trị ho ra máu v.v...
4. Thành tích thực hiện xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện.
Công tác đảng, công tác chính trị triển khai có nền nếp và hiệu quả, góp phần quan trọng vào thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị và xây dựng đơn vị.
- Thường xuyên giáo dục xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng cho đội ngũ cán bộ, nhân viên; xây dựng động cơ, thái độ đúng đắn trong công tác. Kết hợp xây dựng tổ chức Đảng trong sạch vững mạnh với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện; lấy hiệu quả, chất lượng công tác, thái độ trách nhiệm với chi bộ, đơn vị để đánh giá đảng viên. Kết quả phân tích chất lượng đảng viên và tổ chức Đảng hàng năm đạt TB 99,4% đảng viên đủ tư cách hoàn thành nhiệm vụ (trong đó trên 99% đảng viên đủ tư cách hoàn thành tốt nhiệm vụ). 98% chi bộ và cấp uỷ đạt tiêu chuẩn trong sạch vững mạnh. 100% đảng viên được giới thiệu về tham gia sinh hoạt ở nơi cư trú. Kết nạp 20 - 30 đảng viên mới/năm.
Công tác cán bộ, kiểm tra, chính sách, bảo vệ chính trị nội bộ, dân vận, tuyên huấn, thi đua khen thưởng, văn hoá văn nghệ cũng như chỉ đạo hoạt động của tổ chức Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Công đoàn, Hội đồng quân nhân đã được duy trì có nền nếp và chất lượng, góp phần vào việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị của Bệnh viện.
- Hệ thống chỉ huy các cấp, cơ quan chức năng; hệ thống quản lý điều hành trực tiếp của Bệnh viện thường xuyên được kiện toàn cả số và chất lượng. Chấp hành nghiêm hiến pháp, pháp luật của Nhà nước, điều lệnh điều lệ của Quân đội; chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên
- Các công tác đảm bảo khác như: công tác dược, trang bị kỹ thuật, hậu cần, tài chính đã có những bước phát triển toàn diện, bám sát yêu cầu các nhiệm vụ chính trị của Bệnh viện. Xây dựng mối đoàn kết quân dân và thực hiện chính sách xã hội đã được Bệnh viện và địa phương phối hợp chỉ đạo và tổ chức tốt, nhằm đảm bảo an ninh chính trị, an toàn đơn vị và góp phần phát triển kinh tế - xã hôi.
III. CÁC HÌNH THỨC ĐÃ ĐƯỢC KHEN THƯỞNG KHEN THƯỞNG:
Ghi nhận những thành tích của các thế hệ cán bộ, nhân viên, chiến sỹ của Bệnh viện, Đảng, Nhà nước và Quân đội đã tặng thưởng cho Bệnh viện danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang, 3 Huân chương quân công, 4 Huân chương chiến công, 3 Huân chương lao động và hai lần được Chủ tịch nước tặng lẵng hoa.
Trong 10 năm (1998 - 2008) Bệnh viện đã được tặng thưởng:
1. Các danh hiệu thi đua đã được nhận:
- 6 năm được Bộ Quốc phòng tặng cờ thi đua (các năm: 2000, 2001, 2002, 2003, 2004, 2006).
- Chính phủ tặng cờ thi đua (năm 2007) .
- Bộ Quốc phòng tặng cờ Thi đua về xây dựng môi trường văn hoá (giai đoạn 2002 – 2007), cờ Thi đua về công tác dân vận (giai đoạn 2003 – 2008)
2. Các hình thức đã được khen thưởng.
- 1 Huân chương Quân công hạng Ba ( năm 2005).
- 1 Huân chương Chiến công hạng Nhất ( năm 2000).
- 1 Huân chương Chiến công hạng Ba ( năm 2002).
- 2 Huân chương Bảo vệ tổ quốc hạng Ba ( năm 2008).
- 1 Huân chương Lao động hạng Ba về chống dịch tiêu chảy cấp năm 2007 - 2008
- 1 Bằng khen của Chính phủ về thành tích ghép gan ( năm 2004)
- 1 Bằng khen của Uỷ ban quốc gia tìm kiếm cứu nạn, 1 Bằng khen của Bộ Quốc phòng về thành tích diễn tập BV06 - Thu dung cấp cứu nạn nhân hàng loạt do thảm hoạ (năm 2006)
- 4 Bằng khen của Bộ Y tế về thành tích Phục vụ Seagames 22; Hội thao kỹ thuật sáng tạo tuổi trẻ Ngành Y tế khu vực Hà Nội lần thứ XXI (năm 2005), lần thứ XXII (năm 2007) và phòng chống dịch tiêu chảy cấp (năm 2007, 2008), Bằng khen của Bộ Y tế về phát triển kỹ thuật (năm 2008).
- Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Tây tặng Bằng khen về đoàn kết quân dân (giai đoạn 2003 – 2006).
- 4 Bằng khen của Uỷ ban nhân dân tỉnh Sơn La, Bắc Giang, Tổng cục Hậu cần về thực hiện tốt Chương trình 12 - Quân - Dân y kết hợp (năm 2007, 2008).
- 2 Bằng khen của Tổng cục Chính trị về công tác dân vận (năm 2005, năm 2006)
- Bằng khen của Tổng cục Hậu cần về Môi trường văn hoá (năm 2007).
- UBND Thành phố Hà Đông tặng Giấy khen, Quân khu II tặng Bằng khen về công tác dân vận (giai đoạn 2003 – 2008).
|